Tuesday, April 6, 2010

TỰ TÌM LẤY ĐƯỜNG MÀ ĐI



Phật Thích Ca nói: Có 84000 loại chúng sinh, ta cũng có 84000 pháp môn tương ứng với từng loại đó, để giúp cho chúng sinh giải thoát. Vậy nhưng cả cuộc đời 45 năm truyền đạo của Ngài cũng chỉ có thể đưa ra 1 phần nhỏ trong số 84000 pháp môn ấy, thiên kinh vạn quyển của Đạo Phật cũng không thể nói hết về tất cả các pháp môn cho tất cả các loại chúng sinh. Hàng vạn loại chúng sinh, mỗi loại có một đặc điểm căn cơ trí tuệ khác nhau, có người đọc kinh Phật thì ngộ, nhưng đa số thì không ngộ, vì không phù hợp với căn cơ của mình.

Phật nói: Giáo pháp của ta là con đường, nhưng các ngươi phải tự mình đi hết con đường đó, ta không thể đi thay cho các ngươi được. Mỗi pháp môn ấy là một con đường, tất nhiên vì Phật không thể chỉ ra tất cả các pháp môn trong thời gian 45 năm đó, nên có nhiều con đường khác chưa được Ngài nói đến.

Thiền Tông đã mạnh tay hơn: Không những mỗi người phải tự đi hết con đường đó, mà mỗi người còn phải tự tìm ra con đường cho chính mình, đừng có câu nệ vào kinh sách vì những con đường trong kinh sách chỉ cho rất có thể không phù hợp với mình. Vậy nên các bậc thiền sư mới có phương châm: lấy tâm truyền tâm, không dùng ngôn ngữ, tìm hiểu thẳng căn cơ của người tu để tìm ra con đường giác ngộ phù hợp với người tu đó. Phương châm: mỗi người phải tự đi tìm lấy con đường phù hợp với mình, không được dựa dẫm ỷ lại vào ai hay vào cái gì, có thể minh họa trong vài câu chuyện sau:



Có một vị xuất gia trẻ tuổi, tu học rất chuyên cần, tâm niệm giác ngộ của vị này rất rõ ràng. Vị ấy rất muốn được Thiền sư (Ske lại quên tên) giảng giải cho về kinh điển, có một hôm đã hỏi thiền sư:

- Làm sao để giác ngộ?

Thiền sư nghe thế thì kêu:

- Ta mót đi tiểu quá, ta phải đi vệ sinh đây.

Nói rồi thiền sư quay đi. Đi được mấy bước, thiền sư quay lại nói:

- Ông xem, ngay cả cái chuyện nhỏ ấy mà vẫn không ai làm thay được cho lão già này, lão vẫn phải tự làm lấy!



Có vị xuất gia trẻ tuổi, bản chất thông minh nhưng do mới đi tu nên vẫn phải làm các công việc tạp vụ như bưng bê dọn dẹp thuốc nước điếu đóm, không được các vị xuất gia lâu năm khác coi trọng. Nhưng Thiền sư chủ trì ngôi chùa đó thì biết rõ vị xuất gia trẻ đó có căn cơ tốt, sẽ sớm được giác ngộ hơn những vị xuất gia lâu năm kia. Ông đến phòng của vị xuất gia trẻ, gõ vào cửa ba cái rồi về. Vị xuất gia đó hiểu ngay, canh ba đêm hôm đó khi mọi người ngủ hết, ông nhẹ nhàng tìm đến phòng riêng của Thiền sư. Tại đây ông được Thiền sư trao truyền cho Tâm kinh... Khi ra về, bên ngoài trời tối quá, ông còn đang chần chừ thì Thiền sư đưa cho một cái đèn lồng, thiền sư nói:

- Ngọn đèn sẽ giúp con đi đúng đường, không bị va vấp lạc lối.

Vị xuất gia lạy tạ và quay về, nhưng mới đi được mấy bước thì Thiền sư lại gọi lại. Ông vừa quay lại thì thiền sư liền thổi phụt tắt cây nến trong đèn. Thiền sư nói:

- Giữa đêm tối mịt mùng thế này, có ngọn đèn soi đường là rất tốt. Nhưng ta còn muốn ở con hơn nữa: Giữa đêm tối mịt mùng thế này, con phải tự tìm lấy đường mà đi!



Lục Tổ Huệ Năng có lẽ là người Việt Nam mình, nhà nghèo nhưng có tư chất thông minh, ông tìm sang Tàu để được tìm hiểu Phật pháp. Khi đó Thiền Tông đã sang đến đời thứ 5, tức Ngũ Tổ. Dưới Ngũ Tổ có một thầy tài giỏi, am hiểu kinh sách là thầy Thần Tú, mọi người ai cũng nghĩ rằng Thần Tú sẽ là vị đệ tử được kế thừa y, bát của Ngũ Tổ, tức là sẽ làm Lục Tổ trong tương lai. Khi Huệ Năng đến tu học nơi Ngũ Tổ, ban đầu cũng phải làm cái công việc bưng bê dọn dẹp thuốc nước điếu đóm cho các thầy tu lâu hơn. Nhưng Ngũ Tổ thiền sư cũng nhận thấy rõ căn cơ của Huệ Năng rất lớn, Ngài biết Huệ Năng là người xứng đáng kế thừa y bát để làm Lục Tổ, nhưng lo ngại các vị tu lâu năm nhất là Thần Tú không chịu chấp nhận một vị trẻ tuổi mới xuất gia đến từ phương Nam xa xôi lên làm thầy của mình. Vậy nên Ngũ Tổ cũng kín đáo, gõ cánh cửa phòng Huệ Năng ba cái, tối hôm đó vào canh ba Huệ Năng tìm đến phòng Ngũ Tổ. Ngũ Tổ hỏi:

- Ở phương Nam không có kinh Kim Cương hay sao?

Huệ Năng đáp:

- Người có Bắc có Nam, Phập pháp há lại có Bắc có Nam hay sao?

Nghĩa là: Dù con là người Nam man (Tàu toàn coi dân Việt Nam mình là Nam man) nhưng con vẫn có thể hiểu được Phật pháp như người Bắc.

Ngũ Tổ gật đầu, đêm đó Ngài truyền cho Huệ Năng kinh Kim Cương, Huệ Năng đại ngộ. Ngũ Tổ trao y bát cho Huệ Năng, Huệ Năng chính thức làm Lục Tổ. Xong thì Ngũ Tổ nói:

- Con hãy kín đáo đem y bát trở về phương Nam đi, ở đây sẽ bị Thần Tú và những người khác đố kỵ và làm hại.

Đêm đó, Ngũ Tổ cùng Lục Tổ lén ra sông. Ngũ Tổ bảo: Để ta chèo thuyền đưa con đi. Lục Tổ ngăn lại:

- Xin Thầy hãy trở về. Trước đây con chưa ngộ thì thầy độ con, nay con ngộ rồi thì con sẽ tự độ mình.

Ngũ Tổ nghe vậy thì yên tâm quay về. Thế mà buổi sáng, ngài Thần Tú vẫn biết chuyện, vội đuổi theo tìm Huệ Năng đòi lại y bát. Cuối cùng ngài cũng đuổi kịp, liền gọi to:

- Huệ Năng, hãy trả lại y bát cho ta.

Huệ Năng đáp:

- Đối với ngài, có cái bát này thì mới là Phật hay sao? Vậy ta đập vỡ cái bát này thì không còn Phật nữa sao?

Nói rồi Lục Tổ đập vỡ bát. Thần Tú vừa lúc đó cũng đại ngộ.




Ngài Thần Tú có tư chất tốt, am hiểu Phật pháp tường tận, nhưng Ngài vẫn còn vướng mắc là ham mê cái địa vị Lục Tổ, nên ngài vẫn chưa giác ngộ được. Biết Huệ Năng đã được trao y bát tức là đã làm Lục Tổ, đương nhiên Thần Tú không chịu phải đòi lại. Ngài Huệ Năng đập vỡ cái bát đi, khiến Thần Tú không còn cái để mà đòi, để mà ham, đã giúp Thần Tú cởi bỏ được cái rào cản cuối cùng là ham mê y bát đó, vậy nên khi cái bát vỡ rồi, không còn cái để ham muốn nữa thì Thần Tú đại ngộ.



Chú thích của Ske:

Về tục trao truyền y bát: Y là áo cà sa, bát là bình bát để đi khất thực. Khi Phật tổ tịch, áo cà sa và bình bát của Phật được trao cho ngài Đại Ca Diếp, nghĩa là địa vị của Phật sẽ được ngài Đại Ca Diếp kế thừa. Khi Đại Ca Diếp tịch thì y bát lại được trao cho ngài Anan. Cứ như thế đến đời truyền thứ 28, y bát được trao cho Tổ Bồ Đề Đạt Ma. Tổ Bồ Đề Đạt Ma sang truyền giáo bên Trung Quốc, đến Thiếu Lâm Tự và lập ra môn phái Thiền Tông, ngài là Tổ thứ nhất của Thiền Tông. Sau đó, y bát được trao cho đệ tử tức là Nhị Tổ Huệ Khả, rồi đến Tam Tổ Tăng Xán... Đến đời Lục Tổ Huệ Năng thì Huệ Năng đập vỡ bát đi rồi, nên sau đó không còn bát để truyền cho ai nữa, vậy nên sau Lục Tổ không có Thất Tổ, Bát Tổ nữa, mặc dù sau đó vẫn có những vị giác ngộ như thiền sư Thần Tú, Triệu Châu, Viên Ngộ, Lâm Tế, Tế Điên hòa thượng v.v..

Ảnh: Bồ Đề Đạt Ma, người sáng lập ra Thiền Tông và võ thuật Thiếu Lâm Tự. Ngài có râu ria xồm xoàm, mắt ốc nhồi, khuôn mặt đầy vẻ nanh ác khiến nhiều người nhìn bề ngoài của ngài thì kinh sợ:

__________________
Chuyện vui cửa Thiền - Lịch Sử Việt Nam

No comments:

Post a Comment