Wednesday, April 7, 2010

GÃ SAMURAI VÀ CON MÈO

Một gã samurai câu mãi mới được một con cá khá to, gã vui vẻ xiên con cá và cho lên đống lửa. Cá sắp chín, mùi thơm phức, gã rút bầu rượu ra chuẩn bị nhắm rượu với cá nướng. Bỗng "meo" một tiếng, một con mèo trong bụi rậm nhảy ra, vồ lấy con cá tha vào bụi rậm. Gã giận dữ đuổi theo, nhanh như cắt rút kiếm ra chém con mèo thành hai mảnh. Ngay sau đó hắn cảm thấy hối hận và thương con mèo, hắn cảm thấy mình vừa phạm phải một tội ác to lớn. Một samurai có thể bình thản chém đầu một đối thủ, nhưng không bao giờ rút kiếm chém bừa người vô tội, người yếu đuối, vì trong danh dự của một samurai thì samurai luôn là kẻ mạnh, kẻ đại trượng phu. Hắn bị ám ảnh to lớn vì trong phút giận giữ đó đã không kiềm chế được mình. "Meo meo", tiếng con mèo cứ ám ảnh tâm trí hắn.

Suốt trên đường về nhà, hắn chỉ nghe thấy tiếng meo, làm hắn bối rối sợ hãi như có ai chê cười hắn. Người ta chào hắn bằng tiếng meo. Họ nói chuyện với nhau cũng bằng tiếng meo. Về nhà vợ hắn mời hắn ăn cơm, hắn cũng nghe thấy vợ kêu meo meo. Hắn mất ăn mất ngủ, lo lắng sợ hãi.

Mấy hôm như thế, cái tiếng meo ấy cứ văng vẳng bên tai, hắn mệt mỏi kiệt quệ, phải tìm đến gặp thầy mình là một thiền sư. Hắn kể xong, thiền sư quát:

- Đường đường là một đấng võ sĩ đạo, thế mà ngươi không thể thắng nổi một tiếng mèo kêu. Ngươi không xứng đáng là võ sĩ đạo, là đệ tử của ta. Đã hèn nhát, sợ hãi như vậy thì ngươi sống làm gì nữa!

Nói rồi thiền sư rút con dao ra quẳng cho hắn. Ngài nói thêm:

- Vì lòng nhân từ, cũng vì giữ cho ngươi chút danh dự, ta sẽ chém đầu ngươi ngay khi ngươi cắm lưỡi dao vào bụng. Hãy cầm lấy dao đi!

Nói xong, thiền sư tuốt kiếm, đứng ra sau tên samurai, kề lưỡi kiếm gần cổ hắn rồi từ từ đưa lên cao, ngài đã sẵn sàng. Tên Samurai run cầm cập, hắn vẫn còn yêu cuộc sống, nhưng lời thầy không thể trái. Hắn cởi áo ra, cầm con dao lên, mồ hôi chảy ròng ròng, bàn tay run lẩy bẩy. Thiền sư lại hét:

- Còn nghe thấy tiếng meo nữa không?

Tên Samurai nói:

- Dạ con không còn nghe thấy nữa.

- Không nghe thấy nữa, thế thì không đáng phải chết.

Tên Samurai chợt tỉnh ngộ, hắn lại lấy lại được sự bình thản của một võ sĩ đạo.



Chú giải của Ske: Các môn võ thuật của Nhật Bản thường có yếu tố thiền và đạo, ngoài luyện võ còn phải luyện tâm. Một samurai thực thụ thì không những phải có kỹ thuật chiến đấu giỏi, mà còn phải giữ được tâm luôn bình thản, phẳng lặng, đối diện với cái sống chết mà không gợn một nỗi sợ hãi, coi cái chết và sự sống đều nhẹ tựa lông hồng. Vậy nên các võ sư đỉnh cao cũng thường là những thiền sư, có đạo cao đức trọng.

Trở lại câu chuyện, hãy xem tâm người học trò đã có vấn đề gì? Và người thầy đã làm sao để an tâm cho hắn?

Người học trò đó chưa hẳn đã đạt đến đỉnh cao của samurai, hắn dễ nổi giận và xuống tay hạ sát. Hãy nghĩ xem xã hội Nhật bản một thời, cứ đi vài trăm bước lại gặp một người đeo kiếm búi tó củ hành, nếu ai cũng dễ nổi giận và rút kiếm ra, thế thì sẽ có bao nhiêu sinh linh bị chặt làm đôi? Cũng vì vậy mà họ phải được luyện tâm bằng thiền. Tên samurai đó, sau một phút mất bình tĩnh, thì tâm hắn lại chuyển sang ân hận, rồi bị ám ảnh. Hắn bị ám ảnh suốt ngày đến nỗi không ăn không ngủ được. Với cái tâm như thế, nếu đứng trước một cuộc đấu tay đôi với một samurai khác, liệu hắn có đủ tự tin, đủ tập trung mà đối phó với những đường kiếm nhanh như chớp? Chỉ một nháy mắt không tập trung, người hắn có thể đã thành hai khúc như con mèo mà hắn chặt. Cuối cùng thì hắn cũng đủ tỉnh táo một chút để tìm đến người thầy- một thiền sư. Những thiền sư chân chính luôn là bậc thầy chữa tâm bệnh, luôn biết tâm người ta bị bệnh gì và phải chữa ra sao. Ta hãy xem người thầy ấy làm thế nào?

Trước hết là người thầy biết chính xác bệnh của hắn: Tâm hắn bị ám ảnh, không yên vì tiếng meo meo.

Bằng quyền uy của người thầy, ngài đã ra lệnh cho tên samurai đó phải tự sát, đưa hắn về ranh giới giữa cái sống và cái chết. Đối diện với cái chết, đó là một điều thật đáng sợ với mỗi người, trừ những thiền sư đắc đạo. Trong giây phút đối diện với cái chết ấy, bản năng sống của mỗi người mới trỗi dậy mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Bản năng sống mạnh mẽ ấy đã át đi những suy nghĩ vẩn vơ, những ám ảnh, những ước muốn, hy vọng v.v.., lúc đó người ta trở nên tỉnh táo thực sự và cái đầu hoàn toàn tập trung vào giây phút hiện tại ấy. Tiếng meo meo ám ảnh hắn mấy ngày, giờ chợt im bắng đi, hắn trở về với thực tại là ngọn dao đang chĩa vào bụng hắn, lưỡi kiếm đã kề sau gáy hắn, mồ hôi hắn chảy như suối. Và không còn tiếng meo nữa! Vị thầy đã giúp hắn thoát khỏi nỗi ám ảnh, đã giúp tâm hắn trở lại bình thường.

Nếu như sau khi từ biệt thầy, hắn lại nhìn thấy một con mèo và lại bị tiếng meo ám ảnh, thì chả còn gì để nói, để bênh vực hắn nữa! Cũng may mắn, hắn đã tỉnh ngộ ngay. Lần sau, cái kinh nghiệm đối diện với cái chết ấy có thể sẽ giúp hắn không còn vọng tâm về những chuyện khác nữa.



Ta hãy quay trở về với chúng ta. Đừng vội đánh giá tên samurai đó hâm. Chúng ta cũng như hắn cả thôi. Không bị ám ảnh bởi tiếng meo, thì ta cũng luôn bị ám ảnh bởi những tiếng khác, những chuyện khác. Lúc ta ăn, ta cũng chẳng hề ăn, ta đang nghĩ về công việc. Lúc ngủ ta cũng chẳng ngủ, ta đang nhớ lại những chuyện trong ngày. Ta thực tế không hề ăn, không hề ngủ đúng nghĩa, ta luôn nghĩ ngợi, luôn ám ảnh với những ý nghĩ này, ý nghĩ khác, tiếng meo meo cũng ám ảnh ta suốt đó. Ta quên mất rằng, mỗi giây phút đây, tưởng là yên bình nhưng cái chết đang ẩn chứa trong cái yên bình đó, có thể đến với ta bất cứ lúc nào: cháy nhà, tai nạn, điện giật, thiên thạch rơi v.v..., lúc nào cũng có thể xảy đến, gần ta như lưỡi kiếm của người thầy kề bên gáy tên samurai. Thế mà ta vẫn không tỉnh ra, ta vẫn để cho những suy nghĩ vẩn vơ ấy chiếm lấy đầu óc. Ta có hơn gì tên samurai ngốc kia không? Chúng ta có cần ai đó kề lưỡi kiếm sau gáy mình không?

Phật chẳng phải là cái gì to tát, huyền bí cả. Phật chỉ có nghĩa là "người tỉnh thức". Phật là người tỉnh thức, tỉnh thức trong mọi giây phút, không lãng phí một giây nào cho suy nghĩ vẩn vơ. Thế nên Phật mới biết rõ, thấy rõ mọi chuyện, mọi thứ, không phạm phải sai lầm nào. Nếu chúng ta ăn một cách tỉnh táo, biết rõ mình đang ăn, uống nước một cách tỉnh táo, làm việc một cách tập trung không suy nghĩ vẩn vơ, không bị những tiếng "meo meo" ấy ám ảnh, thì chúng ta cũng là những Buddha, những người tỉnh thức. Đạo lý của Thiền Tông là vậy. "Thiền là gì? Là ăn cơm, uống nước, gánh củi, rửa bát, đi tiểu, đi cầu, cái gì cũng là thiền, cái gì cũng là mầu nhiệm".
Chuyện vui cửa Thiền - Page 2 - Lịch Sử Việt Nam

CHUYỆN CỦA SKELETON:



Hôm nay, tôi đi làm về sớm, trên đường đi về thấy chùa Pháp Vân liền ghé vào. Giống như nhiều ngôi chùa của Tịnh Độ tông khác, tôi gặp ngay tượng Bồ Tát Quan Âm. Lạy Ngài xong, tôi tiếp tục đi vào sâu trong chùa. Trong sân , ngay trên bàn thờ trước chính điện, có tượng Phật Thích Ca bằng đá trắng, phía dưới ngài là tượng một ông to béo, tay cầm đĩnh bạc lớn, chắc mọi người không khó đoán ra đó là tượng Phật Di Lặc mà nhiều người buôn bán hay thờ để hy vọng Ngài mang lại may mắn. Xương không hề thích thú chút nào với vị Phật to béo bụng phệ, tay cầm đĩnh bạc đó. Một phần bởi Xương ghét những người thờ Phật để mong phước đức, tiền tài, ấy là một kiểu buôn bán, trả giá với Phật. Tượng ông to béo tay cầm nén bạc rõ to kia, rõ là làm cho nhiều người tưởng ông ấy sẽ mang lại tài lộc cho họ, làm họ hiểu sai về đạo Phật!



Dạo trong sân chùa một lát, thấy có một nhà sư ngồi rảnh rỗi, Xương lại gần chào thầy, ngồi xuống hỏi chuyện. Thầy ấy trẻ, có khuôn mặt đẹp trai, đôi mắt trong trẻo vô sự, nói chuyện chậm rãi bình thản. Sau một lúc, Xương đem cái thắc mắc của mình về Phật Di Lặc đem hỏi thầy ấy: Tại sao Phật Di Lặc lại phải một tay cầm tiền, một tay cầm tràng hạt như vậy?

Thầy ấy điềm nhiên đọc mấy câu như sau:

Vô minh: bùn chỉ là bùn
Ngộ rồi mới biết trong bùn có sen.
Vô minh: Tiền chỉ là tiền
Ngộ rồi mới biết trong tiền có tâm!

Xương nghe thế bỗng lạnh toát người. Thầy ấy nói tiếp:

- Tay Phật Di Lặc cầm nén bạc, nhưng mắt Ngài không nhìn về nén bạc đó, tâm ngài không dính mắc vào nén bạc. Những đứa trẻ véo tai, véo mắt ngài mà ngài vẫn thản nhiên tươi cười, đó là vì NGài đã không còn dính mắc vào sáu căn, sáu trần kia nữa.

Xương lạy tạ. Chợt hiểu ra rằng mình vẫn bị vướng mắc quá nặng nề vào sắc trần, chỉ thấy tay Ngài cầm bạc mà không thấy tâm ngài không có bạc. Thầy ấy kể lại chuyện Thiền sư cõng gái cho Xương nghe. Xương dốt nát thay, trước đây chính mình đã kể câu chuyện đó với mọi người, thế mà đạo lý của nó Xương vẫn không ngộ, để hôm nay nghe sư thầy ấy nói mới lạnh toát cả người.

Hỏi ra mới biết, thầy ấy tên là Hiếu, trước đây đã dạy luyện thi Đại học khắp khu Bách Khoa và Đại Học Y, có thời điểm thầy ấy kiếm được đến 300 triệu một tháng, có đến 2 căn nhà ở Hà Nội này. Nhưng thầy cũng nói, giai đoạn thầy ấy kiếm được nhiều tiền nhất là giai đoạn buồn nhất, từ sáng đến tối lúc nào cũng vội vàng, không có lấy một lúc thảnh thơi uống một chén cà phê. Sau đó thầy quyết nghỉ ngơi một chuyến, đi sang Ấn Độ chơi. Một hôm, đang ngồi một mình ở Bồ Đề Đạo Tràng (Bodh Gaya), thầy ấy thấy cảnh người nông dân thả một đàn dê ra đồng cho chúng gặm cỏ. Có hai con dê húc nhau dữ dội để tranh nhau một đám cỏ. Thầy bỗng nhớ lại ngày trước, thầy thấy đàn lợn ăn chung một máng, có lúc chúng kêu ầm ĩ, cắn lẫn nhau vì tranh nhau một chút cám. Thầy ấy chợt giật mình ngộ ra. Con dê đó rồi cũng bị đưa đi thịt, con lợn đó cũng sẽ chỉ sống được vài tháng nữa, nếu chúng biết như vậy liệu chúng có vui vẻ ăn uống, lồng lộn tranh giành nhau như thế kia không? rồi ngay cả mình cũng có sẵn một bản án tử hình treo, đó là cái chết, thế mà mình vẫn tranh đua với mọi người, vươn lên để hơn người này, hạ người khác. Con người đâu cũng thế cả, thế thì có khác chi con dê, con lợn kia đâu. Trở về từ Ấn Độ, thầy ấy liền đi tu, từ bỏ những thứ trước kia để khoác áo nâu sồng.

Xương tự hỏi, với kiến thức như vậy, với vẻ mặt đẹp trai như vậy, nếu thầy vẫn ở đời thì thầy sẽ có đủ thứ mà người đời mong muốn. Thầy ấy dường như biết sự băn khoăn của Xương, đã nói rằng:

- Nếu mình vào ở khách sạn hay nhà nghỉ một ngày, thì mình có sắm vào đó ti vi, tủ lạnh, máy vi tính, đủ thứ để trang bị cho căn phòng ấy không? Cuộc đời này cũng vậy, 70 năm có thể là dài, nhưng so với chuỗi luân hồi vô tận thì có khác gì một đêm, thân xác này có khác gì nhà nghỉ? Thấy được điều đó thì ta sắm sửa, trang hoàng đủ thứ tiện nghi kia, có ý nghĩa gì?

Còn nhiều điều nữa... Buổi nói chuyện hôm nay đã mang đến cho Xương nhiều cảm khái sâu sắc. Nhưng Xương lại không nhớ nổi pháp danh của thầy ấy là Thích ...Hiếu gì gì đó. Ra cổng chùa, gặp lại tượng Phật Quan Âm, Xương thầm cảm tạ cơ duyên nào đã khiến Xương đến chùa này, gặp thầy này để được chỉ ra những điều mình còn vô minh. Tối thứ 2 hàng tuần thầy ấy sẽ thuyết pháp, Xương nhất định sẽ đến nghe.
__________________
Chuyện vui cửa Thiền - Page 2 - Lịch Sử Việt Nam

Tuesday, April 6, 2010

TỰ TÌM LẤY ĐƯỜNG MÀ ĐI



Phật Thích Ca nói: Có 84000 loại chúng sinh, ta cũng có 84000 pháp môn tương ứng với từng loại đó, để giúp cho chúng sinh giải thoát. Vậy nhưng cả cuộc đời 45 năm truyền đạo của Ngài cũng chỉ có thể đưa ra 1 phần nhỏ trong số 84000 pháp môn ấy, thiên kinh vạn quyển của Đạo Phật cũng không thể nói hết về tất cả các pháp môn cho tất cả các loại chúng sinh. Hàng vạn loại chúng sinh, mỗi loại có một đặc điểm căn cơ trí tuệ khác nhau, có người đọc kinh Phật thì ngộ, nhưng đa số thì không ngộ, vì không phù hợp với căn cơ của mình.

Phật nói: Giáo pháp của ta là con đường, nhưng các ngươi phải tự mình đi hết con đường đó, ta không thể đi thay cho các ngươi được. Mỗi pháp môn ấy là một con đường, tất nhiên vì Phật không thể chỉ ra tất cả các pháp môn trong thời gian 45 năm đó, nên có nhiều con đường khác chưa được Ngài nói đến.

Thiền Tông đã mạnh tay hơn: Không những mỗi người phải tự đi hết con đường đó, mà mỗi người còn phải tự tìm ra con đường cho chính mình, đừng có câu nệ vào kinh sách vì những con đường trong kinh sách chỉ cho rất có thể không phù hợp với mình. Vậy nên các bậc thiền sư mới có phương châm: lấy tâm truyền tâm, không dùng ngôn ngữ, tìm hiểu thẳng căn cơ của người tu để tìm ra con đường giác ngộ phù hợp với người tu đó. Phương châm: mỗi người phải tự đi tìm lấy con đường phù hợp với mình, không được dựa dẫm ỷ lại vào ai hay vào cái gì, có thể minh họa trong vài câu chuyện sau:



Có một vị xuất gia trẻ tuổi, tu học rất chuyên cần, tâm niệm giác ngộ của vị này rất rõ ràng. Vị ấy rất muốn được Thiền sư (Ske lại quên tên) giảng giải cho về kinh điển, có một hôm đã hỏi thiền sư:

- Làm sao để giác ngộ?

Thiền sư nghe thế thì kêu:

- Ta mót đi tiểu quá, ta phải đi vệ sinh đây.

Nói rồi thiền sư quay đi. Đi được mấy bước, thiền sư quay lại nói:

- Ông xem, ngay cả cái chuyện nhỏ ấy mà vẫn không ai làm thay được cho lão già này, lão vẫn phải tự làm lấy!



Có vị xuất gia trẻ tuổi, bản chất thông minh nhưng do mới đi tu nên vẫn phải làm các công việc tạp vụ như bưng bê dọn dẹp thuốc nước điếu đóm, không được các vị xuất gia lâu năm khác coi trọng. Nhưng Thiền sư chủ trì ngôi chùa đó thì biết rõ vị xuất gia trẻ đó có căn cơ tốt, sẽ sớm được giác ngộ hơn những vị xuất gia lâu năm kia. Ông đến phòng của vị xuất gia trẻ, gõ vào cửa ba cái rồi về. Vị xuất gia đó hiểu ngay, canh ba đêm hôm đó khi mọi người ngủ hết, ông nhẹ nhàng tìm đến phòng riêng của Thiền sư. Tại đây ông được Thiền sư trao truyền cho Tâm kinh... Khi ra về, bên ngoài trời tối quá, ông còn đang chần chừ thì Thiền sư đưa cho một cái đèn lồng, thiền sư nói:

- Ngọn đèn sẽ giúp con đi đúng đường, không bị va vấp lạc lối.

Vị xuất gia lạy tạ và quay về, nhưng mới đi được mấy bước thì Thiền sư lại gọi lại. Ông vừa quay lại thì thiền sư liền thổi phụt tắt cây nến trong đèn. Thiền sư nói:

- Giữa đêm tối mịt mùng thế này, có ngọn đèn soi đường là rất tốt. Nhưng ta còn muốn ở con hơn nữa: Giữa đêm tối mịt mùng thế này, con phải tự tìm lấy đường mà đi!



Lục Tổ Huệ Năng có lẽ là người Việt Nam mình, nhà nghèo nhưng có tư chất thông minh, ông tìm sang Tàu để được tìm hiểu Phật pháp. Khi đó Thiền Tông đã sang đến đời thứ 5, tức Ngũ Tổ. Dưới Ngũ Tổ có một thầy tài giỏi, am hiểu kinh sách là thầy Thần Tú, mọi người ai cũng nghĩ rằng Thần Tú sẽ là vị đệ tử được kế thừa y, bát của Ngũ Tổ, tức là sẽ làm Lục Tổ trong tương lai. Khi Huệ Năng đến tu học nơi Ngũ Tổ, ban đầu cũng phải làm cái công việc bưng bê dọn dẹp thuốc nước điếu đóm cho các thầy tu lâu hơn. Nhưng Ngũ Tổ thiền sư cũng nhận thấy rõ căn cơ của Huệ Năng rất lớn, Ngài biết Huệ Năng là người xứng đáng kế thừa y bát để làm Lục Tổ, nhưng lo ngại các vị tu lâu năm nhất là Thần Tú không chịu chấp nhận một vị trẻ tuổi mới xuất gia đến từ phương Nam xa xôi lên làm thầy của mình. Vậy nên Ngũ Tổ cũng kín đáo, gõ cánh cửa phòng Huệ Năng ba cái, tối hôm đó vào canh ba Huệ Năng tìm đến phòng Ngũ Tổ. Ngũ Tổ hỏi:

- Ở phương Nam không có kinh Kim Cương hay sao?

Huệ Năng đáp:

- Người có Bắc có Nam, Phập pháp há lại có Bắc có Nam hay sao?

Nghĩa là: Dù con là người Nam man (Tàu toàn coi dân Việt Nam mình là Nam man) nhưng con vẫn có thể hiểu được Phật pháp như người Bắc.

Ngũ Tổ gật đầu, đêm đó Ngài truyền cho Huệ Năng kinh Kim Cương, Huệ Năng đại ngộ. Ngũ Tổ trao y bát cho Huệ Năng, Huệ Năng chính thức làm Lục Tổ. Xong thì Ngũ Tổ nói:

- Con hãy kín đáo đem y bát trở về phương Nam đi, ở đây sẽ bị Thần Tú và những người khác đố kỵ và làm hại.

Đêm đó, Ngũ Tổ cùng Lục Tổ lén ra sông. Ngũ Tổ bảo: Để ta chèo thuyền đưa con đi. Lục Tổ ngăn lại:

- Xin Thầy hãy trở về. Trước đây con chưa ngộ thì thầy độ con, nay con ngộ rồi thì con sẽ tự độ mình.

Ngũ Tổ nghe vậy thì yên tâm quay về. Thế mà buổi sáng, ngài Thần Tú vẫn biết chuyện, vội đuổi theo tìm Huệ Năng đòi lại y bát. Cuối cùng ngài cũng đuổi kịp, liền gọi to:

- Huệ Năng, hãy trả lại y bát cho ta.

Huệ Năng đáp:

- Đối với ngài, có cái bát này thì mới là Phật hay sao? Vậy ta đập vỡ cái bát này thì không còn Phật nữa sao?

Nói rồi Lục Tổ đập vỡ bát. Thần Tú vừa lúc đó cũng đại ngộ.




Ngài Thần Tú có tư chất tốt, am hiểu Phật pháp tường tận, nhưng Ngài vẫn còn vướng mắc là ham mê cái địa vị Lục Tổ, nên ngài vẫn chưa giác ngộ được. Biết Huệ Năng đã được trao y bát tức là đã làm Lục Tổ, đương nhiên Thần Tú không chịu phải đòi lại. Ngài Huệ Năng đập vỡ cái bát đi, khiến Thần Tú không còn cái để mà đòi, để mà ham, đã giúp Thần Tú cởi bỏ được cái rào cản cuối cùng là ham mê y bát đó, vậy nên khi cái bát vỡ rồi, không còn cái để ham muốn nữa thì Thần Tú đại ngộ.



Chú thích của Ske:

Về tục trao truyền y bát: Y là áo cà sa, bát là bình bát để đi khất thực. Khi Phật tổ tịch, áo cà sa và bình bát của Phật được trao cho ngài Đại Ca Diếp, nghĩa là địa vị của Phật sẽ được ngài Đại Ca Diếp kế thừa. Khi Đại Ca Diếp tịch thì y bát lại được trao cho ngài Anan. Cứ như thế đến đời truyền thứ 28, y bát được trao cho Tổ Bồ Đề Đạt Ma. Tổ Bồ Đề Đạt Ma sang truyền giáo bên Trung Quốc, đến Thiếu Lâm Tự và lập ra môn phái Thiền Tông, ngài là Tổ thứ nhất của Thiền Tông. Sau đó, y bát được trao cho đệ tử tức là Nhị Tổ Huệ Khả, rồi đến Tam Tổ Tăng Xán... Đến đời Lục Tổ Huệ Năng thì Huệ Năng đập vỡ bát đi rồi, nên sau đó không còn bát để truyền cho ai nữa, vậy nên sau Lục Tổ không có Thất Tổ, Bát Tổ nữa, mặc dù sau đó vẫn có những vị giác ngộ như thiền sư Thần Tú, Triệu Châu, Viên Ngộ, Lâm Tế, Tế Điên hòa thượng v.v..

Ảnh: Bồ Đề Đạt Ma, người sáng lập ra Thiền Tông và võ thuật Thiếu Lâm Tự. Ngài có râu ria xồm xoàm, mắt ốc nhồi, khuôn mặt đầy vẻ nanh ác khiến nhiều người nhìn bề ngoài của ngài thì kinh sợ:

__________________
Chuyện vui cửa Thiền - Lịch Sử Việt Nam

BẤT TÚC BẤT THỰC

Nhà Nho mạt sát đạo Phật ghê lắm, nào là Phật tử phạm tội bất hiếu (Nhà nho quan niệm, trong ba tội bất hiếu thì tội không có con nối dõi là lớn nhất, tăng sĩ hồi đó hầu hết đều độc thân), nào là nhà sư là đồ ăn bám v.v.. Không phải là họ không có lý, khi có khá nhiều người đến cửa Phật không phải để tu mà là để kiếm một chỗ an nhàn yên ổn không chết đói.

Thấy vậy, thiền sư Bách Trượng nêu ra chủ trương: Nhất nhật bất túc, nhất nhật bất thực, nghĩa là: Một ngày không làm thì ngày đó không được ăn. Nói là làm, ngày nào ông cũng vác cuốc ra ruộng. hơn 80 tuổi vẫn không nghỉ một ngày. Đồ đệ thấy thầy già yếu, không dám để thầy lao động vất vả, một hôm liền giấu hết cuốc xẻng của thầy đi. Nhà sư không có đồ để làm việc, thì nằm một mình trong nhà, đến bữa nhất định không chịu ăn gì. Đồ đệ thấy vậy cả sợ, phải trả lại cuốc xẻng cho Thiền sư.




Thời Phật Tổ còn tại thế, hình thức tu hành chủ yếu của tăng ni là khất thực, tức là hàng ngày ôm bình bát đến trước cửa mỗi gia đình không phân biệt giàu nghèo sang hèn, nhận thức ăn bố thí của gia chủ không phân biệt ngon hay dở, nóng sốt hay nguội lạnh, tươi mới hay ôi thiu, không phân biệt gia chủ nam hay nữ (thời đó xã hội Ấn Độ cực kỳ kỳ thị phụ nữ), mỗi ngày chỉ đi khất thực một lần. Việc khất thực có nhiều mục đích, là:

- Từ bỏ sự phân biệt kỳ thị giữa các gia chủ (Ấn Độ là nơi mà sự kỳ thị giai cấp thuộc loại khắc nghiệt nhất thế giới).

- Từ bỏ lòng tham, vì đi khất thực nên các tăng sĩ không có gì để mà cất giữ, tích trữ.

- Rèn luyện tính khiêm nhường, nhẫn nhịn, vì đi khất thực thì chắc chắn sẽ có người coi thường, có người chửi bới, như ta vẫn hay coi thường, nhiều khi xúc phạm kẻ ăn xin vậy.

- Mỗi lần đi khất thực là một cơ hội để rèn luyện Bát chánh đạo: Tập thiền ngay trong mỗi bước đi.

- Tạo cơ hội cho mọi người được bố thí, reo nghiệp tốt cho chúng sinh. Sau khi nhận được thức ăn bố thí, tu sĩ kính cẩn cảm tạ và chú nguyện chúc phúc cho gia chủ, dù gia chủ đó bố thí thức ăn ít hay nhiều, ngon hay dở.

Đến nay, trong miền Nam có một số phái tu theo lối Khất sĩ nguyên thủy này, những người đó hoàn toàn không phải là loại người vô tích sự, ăn bám.

Trở lại câu chuyện của Thiền sư Bách Trượng, chủ trương Không làm thì không ăn của ông là một chủ trương đúng đắn và tiến bộ, giúp đạo Phật gần gũi với nhân sinh hơn, đồng thời cũng tránh được những kẻ ăn bám nơi cửa Phật. Chủ trương này thực ra không mâu thuẫn gì với những người tu hành theo lối Khất sĩ mà Ske vừa trình bày, bởi mục đích của người tu Khất sĩ cũng là tu chứ không phải ăn bám xã hội.
Chuyện vui cửa Thiền - Lịch Sử Việt Nam

NHÀ NHO HÀN DŨ VÀ HÒA THƯỢNG TẾ ĐIÊN

Trong sách Văn học phổ thông, có bài Lẽ ghét thương của cụ Nguyễn Đình Chiểu, trong đó có câu:

Thương ông Hàn Dũ chẳng may
Sớm dâng lời biểu tối đày đi xa.

Câu chuyện là thế này: ông Hàn Dũ là một nhà nho uyên thâm, thời của ông nhà vua rất trọng đạo Phật, vì lẽ đó mà Nho giáo suy vi. Hàn Dũ là một nhà nho nên thấy vậy thì bức xúc không chịu được, muốn khôi phục lại địa vị của Nho gia, muốn như Mạnh Tử ngày xưa tự phong cho mình nhiệm vụ đánh đổ Dương Mặc khôi phục Nho gia, giờ Hàn Dũ cũng tự phong cho mình cái nhiệm vụ thiêng liêng là đánh đổ Phật pháp khôi phục Nho gia, muốn lưu danh như Mạnh Tử. Quan niệm lưu danh của Nho gia rất nặng nề (Đã mang tiếng ở trong trời đất, phải có danh gì với núi sông. Nguyễn Công Trứ). Vậy nên ông không ngừng mạt sát đạo Phật bằng những lời lẽ sắc sảo, cay nghiệt của một bậc cự nho. Có lần, ông viết một bài biểu rất gay gắt để can vua không được theo đạo Phật nữa, động chạm đến tâm linh của nhà vua nên ông bị giáng chức, đi đày ở phương Nam xa xôi.

Phương Nam luôn được coi là Nam man, xa Trung nguyên, văn minh cũng kém hơn, ảnh hưởng của văn hóa Trung Nguyên cũng ít hơn, ở đó Hàn Dũ không kiếm được ai có sở học đàng hoàng để giao du. Nhưng nghe nói có một hòa thượng rất nổi tiếng là Tế Điên Hòa Thượng, Hàn Dũ cũng muốn đến gặp ông già này xem sao, ông rất muốn lật mặt nhà Phật. Thế là ông cũng lên chùa. Lúc đó Hòa Thượng Tế Điên đang ngồi thiền, tĩnh tâm yên lặng, dáng vẻ nghiêm túc mà thanh thản, thấy vậy Hàn Dũ cũng không nỡ làm phiền, đành ngồi đợi nhà sư nhập thiền xong. Cảnh chùa tĩnh mịch, cộng với vẻ an lạc của nhà sư cũng khiến Hàn Dũ mềm lòng đi mấy phần, và thầm khâm phục cái đạo phong thanh thản của nhà sư. Nhưng đợi mãi chả thấy Tế Điên có biểu hiện gì, ông nản quá, đang định bỏ về thì nghe thị giả của Hòa thượng nói:

- Trước dùng Định đoạt, sau lấy trí nhổ!

Đại ý: Ban đầu Hòa Thượng dùng sự tĩnh lặng của Thiền định để trấn an tâm của Hàn Dũ, sau đó sẽ dùng trí tuệ để chinh phục Hàn Dũ.

Ông hiểu ngay, quay lại, thấy Hòa thượng cũng vừa mở mắt, mỉm cười. Ông có phần nể nhà sư mấy phần. Hai người ngồi trao đổi, trò chuyện với nhau một lúc, Hàn Dũ thấy lòng thanh thản. Khi ra về, ông hỏi Hòa Thượng năm nay bao nhiêu tuổi. Tế Điên cứ cười không nói gì.

Lần sau ông lại lên chùa, gặp chú tiểu đi ngang qua, liền kéo chú tiểu lại hỏi:

- Này chú tiểu, Hòa Thượng năm nay bao nhiêu tuổi?

Chú tiểu cũng không nói gì, lấy tay gõ vào răng ba cái rồi đi. Hàn Dũ bối rối chả hiểu thế nghĩa là sao. Lúc sau, ông hỏi Thiền sư xem chuyện đó có nghĩa gì, thì thiền sư cũng lấy tay gõ vào răng ba cái.




Câu chuyện trên có thể giải thích thế nào? Nhà Thiền luôn an trú trong hiện tại, chẳng mảy may bận tâm gì đến tương lai, nuối tiếc gì quá khứ, đối với họ, thời gian có nghĩa lý gì? Đói thì ăn, mệt thì nghỉ, thong thả đi dạo, thấy hữu tình thì làm thơ, vui sống trong hiện tại và ung dung đón nhận cái chết khi cái chết đến. Mà thời gian thì vô thủy vô chung, trôi đi không ngừng, đâu có thể nắm bắt được thời gian bằng cách đặt ra những năm, những tháng? Chỉ những người đắm đuối chìm nổi với chốn trần thế thì mới cần biết những năm những tháng, còn đối với Thiền sư thì ông là một người vô sự, chẳng lo sống cũng chẳng lo chết, hè đến thì vui hè, đông đến thì vui mùa đông, xuân sang thì vui cái vui của mùa xuân, khi rừng trút lá thì cũng vui với cảnh rừng trút lá, không chút chờ đợi, tìm kiếm hay hoài niệm. Khi xưa có vị vua nhà Trần của ta hỏi một thiền sư của ta bao nhiêu tuổi, nhà sư cũng đáp:

Chỉ biết tháng năm này
Ai rành ngày tháng trước.



Về sau ông Hàn Dũ từ bỏ luôn tham vọng đánh đổ đạo Phật khôi phục đạo Nho, tiếp xúc với hòa thượng Tế Điên nhiều, những suy nghĩ tiêu cực của ông về đạo Phật trước kia cũng tan biến. Có lần ông than: Tâm kinh hai trăm năm mươi chữ ta còn chẳng thấu, thế mà cứ hễ mở miệng ra là mạt sát nhà Phật!


Chuyện vui cửa Thiền - Lịch Sử Việt Nam

CHUYỆN BÀ GIÀ HAY TỤNG KINH

(Dẫn nguồn: Người vô sự, Tác giả Thích Nhất Hạnh)

Ngày xưa, tờ báo Đuốc Tuệ có đăng chuyện một bà ở miền Bắc. Bà rất siêng niệm Phật A Di Đà. Bà niệm năm này sang năm khác. Nhưng không thấy bà có chuyển hóa gì cả, bà vẫn dữ như thường, hàng xóm ai cũng sợ bà. Mỗi khi bà mất một con gà, bà leo lên ngồi trên nóc nhà mà chửi. Hồi đó chưa ai có máy microphone nên leo lên nóc nhà để chửi thì mọi người mới có thể nghe. Bà chửi như thế này:"Mầy ăn gà của bà thì cha mày bị cái này, mẹ mày bị cái kia..." Có một ông hàng xóm muốn cho bà một bài học. Hôm đó, cũng như thường lệ, đúng giờ bà thắp nhang đèn chuông mõ để tụng kinh, vừa mở miệng "Nam mô A DI Đà Phật" thì ông hàng xóm gọi to ngoài cổng: "Bà Tư ơi, bà Tư!". Bà Tư gõ mõ lớn hơn để chứng tỏ rằng bà đang bận việc rất quan trọng, đó là tụng kinh niệm Phật,ông đừng có quấy rầy bà. Nhưng ông hàng xóm giả bộ không nghe, kêu to hơn nữa: Bà Tư ơi, bà Tư! Bà Tư lại càng thỉnh chuông gõ mõ to hơn nữa, để nói với ông hàng xóm rằng: đừng quấy rầy tôi trong khi tôi đang làm công việc linh thiêng quan trọng này. Rồi bà lại niệm: Nam mô A Di Đà Phật. Bà cứ tiếp tục niệm, ông hàng xóm ở ngoài cứ gọi, bà niệm to hơn thì ông gọi càng to hơn. Cứ như thế hai bên thi nhau rống lên. Cuối cùng, giận quá, bà quăng chuông mõ, bỏ ra ngoài đứng chống nạnh chửi: "Tiên sư nhà nó, tao đang tụng niệm Phật mà nó cứ đến phá như vậy." Lúc đó ông hàng xóm tươi cười nhìn bà nói: "Trời đất ơi, tôi mới gọi bà có bốn, năm chục lần mà bà Tư đã nổi giận như vậy. Trong khi bà Tư cứ gọi Phật A Di Đà suốt ngày suốt đêm, năm này qua năm khác như vậy, chắc là Phật giận bà Tư giữ lắm "



Câu chuyện trên làm Ske nhớ đến 1 chuyện trước đây do Osho viết: Linh mục John là người rất ngoan đạo, ông cầu kinh buổi sáng, buổi trưa, buổi tối, trước khi đi ngủ, không ngày nào lơ là. Bên cạnh nhà ông có một tên đồ tể chả bao giờ thèm cầu nguyện. Bất ngờ cả hai cùng chết một ngày. Linh hồn cả hai chờ ở cổng Thiên Đường để nghe Chúa phán xử. Thấy mặt 2 người này, Chúa phán ngay: Tên đồ tể được ở Thiên Đường, còn ông linh mục kia xuống Địa Ngục. Linh mục John thấy oan ức quá, liền kêu: Xin chúa hãy công bằng, con cả đời một lòng thành kính với Chúa, còn hắn (chỉ tên đồ tể) thậm chỉ chả bao giờ cầu kinh cơ mà?

Chúa xua tay đáp: Ta biết ta biết, nhưng việc gì cũng có lý do cả. Tại ngươi cứ reo réo gọi tên ta suốt cả sáng, cả trưa cả chiều, đến tối ta đang đi ngủ vẫn bị ngươi gọi dậy, ta không lúc nào được yên với ngươi. Ở trần gian mà ngươi còn làm phiền ta đến như vậy, cho ngươi ở Thiên Đường thì ta còn khổ sở đến mức nào. Vậy ngươi xuống địa ngục là xứng đáng rồi. Tên đồ tể kia thì chẳng bao giờ làm phiền đến ta, ngươi so đo làm sao được .
Chuyện vui cửa Thiền - Lịch Sử Việt Nam

THIỀN SƯ ĐỐT TƯỢNG PHẬT: Thiền sư Đan Hà ban đầu vốn là một học trò, đi thi lận đận mãi. Về sau, ông tò mò muốn tìm hiểu Phật pháp, bèn tìm đến đạo t

THIỀN SƯ ĐỐT TƯỢNG PHẬT:

Thiền sư Đan Hà ban đầu vốn là một học trò, đi thi lận đận mãi. Về sau, ông tò mò muốn tìm hiểu Phật pháp, bèn tìm đến đạo tràng của Thiền sư Đạo Nhất, một thời gian ông được Tổ Đạo Nhất gửi đến tu học với Tổ sư Thạch Đầu, sau ba năm tu học với Tổ Thạch Đầu thì đắc đạo, trở về với đạo tràng của tổ Đạo Nhất. Trở về chùa, ông đi thẳng vào Tổ Đường mà không đảnh lễ, còn leo lên ngồi trên lưng tượng Bồ Tát Văn Thù. Sư chúng thấy vậy thất kinh không dám làm gì, lên thưa với Tổ Đạo Nhất. Thiền sư xuống Tổ Đường thấy Đan Hà thản nhiên ngồi trên lưng tượng đức Văn Thù, Tổ thích quá liền nói: "Ô, ngã tử thiên nhiên!" (ồ, con ta tự nhiên quá!) Đan Hà mới bước xuống lạy Tổ: "Cám ơn hòa thượng đã ban pháp danh cho con", từ đó thiền sư Đan Hà có tên là "Đan Hà Thiên Nhiên". Tổ sư Đan Hà sinh năm 739, tịch năm 824.

Có lần Tổ Đan Hà đến chùa Huê Lâm vào mùa Đông, khí hậu rất lạnh. Tổ thấy mọi người trong chùa tu học rất siêng nhưng lại cố chấp, thà chịu rét, chịu cóng chứ không có củi sưởi. Tổ bèn lấy một tượng Phật bằng gỗ, chẻ ra bỏ vào lò để sưởi. Tất cả các thầy ở trong chùa đều phản đối. Họ đi thưa với thầy viện chủ.

Viện chủ hỏi: "tại sao dám đốt tượng Phật?"

Tổ Đan Hà lấy cây que khơi tro than ra tìm gì đó.

Viện chủ hỏi: "Tìm cái gì?"

Tổ nói: "Tìm ngọc xá lợi".

Viện chủ hỏi: "Tượng gỗ làm sao có xá lợi?"

Tổ mới nói: "Nếu tượng gỗ này không có xá lợi thì đem mấy cái tượng gỗ khác xuống đốt cho luôn."

Lúc đó vị viện chủ giác ngộ, biết đây là bài học cho mình. Thiền sư Nhất Hạnh của ta nói rằng, đốt một tượng Phật mà giúp cho người khác giác ngộ thì cũng không tốn kém gì.



Chú thích của Ske: Bồ tát Văn Thù: Một vị bồ tát quan trọng của Phật giáo, chủ về trí tuệ, người tu Phật cảm thấy trí tuệ tăm tối mù mịt thì thường tụng niệm: Nam mô đức Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
Xá lợi: Những vị tu hành đắc đạo như Phật, khi chết xác được đem thiêu, trong tro than thường tìm được những vật thể không bị cháy, có những tính chất đặc biệt như rất cứng, có ánh sáng đẹp như ngọc, được gọi là ngọc xá lợi.


Lời bàn của Ske: Tụng kinh, niệm Phật, tô tượng đúc chuông, ấy chỉ là những cái hình thức bên ngoài. Các nhà tu hành ngày ấy và ngày nay nữa quá coi trọng cái hình thức bên ngoài ấy, mà không biết rằng, Phật đâu có nằm trong các pho tượng mà thờ, Phật đâu có nằm trong các kinh sách để mà tụng. Có vị thiền sư nhận thấy kinh sách chả giúp ích gì cho mình, đã đốt hết kinh sách đi, về nhà làm ruộng, và trong khi làm ruộng thì ông chợt "ngộ" ra và đắc đạo! Thế mới biết rằng con đường đặc đạo thật độc đáo, chả ai giống với ai, người này tụng kinh thì ngộ nhưng người khác thì tụng kinh cả đời cũng không ngộ được, với người như vậy thì mang theo kinh sách, thờ tượng Phật cả đời cũng chả có ích gì. Thiền tông đặc sắc ở chỗ đó, những người dám đốt tượng, đốt kinh sách mà ngộ đạo thì Ske chỉ thấy ở Thiền tông.
Chuyện vui cửa Thiền - Lịch Sử Việt Nam