Bauxite Việt Nam: Năm xúc cảm tiêu cực sẽ gây ra đau khổ cho nhân loại: "
5 xúc cảm tiêu cực mà “theo đạo Phật sẽ gây ra những đau khổ cho nhân loại”. Đó là: Dục vọng, sự căm ghét, không hiểu biết, thói kiêu ngạo và sự đố kị. Tác giả bổ sung thêm 2 tội lỗi nữa, theo đạo Thiên Chúa, là sự tham lam và thói dâm ô.
- Sent using Google Toolbar"
Sunday, July 25, 2010
Monday, June 28, 2010
101 câu chuyện thiền, Ấn Tống Kinh Điển - VN thu quan
Tetsugen, một kẻ mộ Thiền ở Nhật, quyết định ấn tống kinh Phật, lúc bấy giờ chỉ bằng Hán ngữ. Bản in tạng kinh phải được khắc bằng bản gổ đến sáu ngàn tấm, một công tác to lớn vô lường.
Tetsugen bắt đầu du hành và quyên tiền đóng góp của bá tánh thập phương. Vài kẻ có lòng, biếu ông cả trăm lượng vàng, nhưng hầu hết còn lại thì chỉ cúng vài xu. Ông cảm tạ mỗi khách bố thí lòng tri ân ngang nhau. Sau mười năm Tetsugen kiếm đũ số tiền để khởi sự công tác.
Nhưng lúc ấy sông Uji gây lụt lội. Nạn đói kéo theo. Tetsugen dùng tiền đã quyên góp được để in kinh, phân phát cứu đói. Rồi ông ta lại bắt đầu đi quyên góp trở lại.
Vài năm sau, một trận ôn dịch tràn lan khắp nơi. Lần nữa, Tetsugen lại phân phát hết tiền quyên góp để cứu nhân độ thế.
Ông lại khởi công lần thứ ba, và sau mười hai năm ông đạt được ước nguyện. Bản gỗ in bộ kinh đầu tiên hiện được trưng bày tại Tu viện Obaku ở Kyoto.
Người Nhật thường truyền tụng cho con cháu nghe rằng Tetsugen đã làm ra ba bộ kinh, và rằng hai bộ đầu còn vượt trội hơn bộ chót.
Tetsugen bắt đầu du hành và quyên tiền đóng góp của bá tánh thập phương. Vài kẻ có lòng, biếu ông cả trăm lượng vàng, nhưng hầu hết còn lại thì chỉ cúng vài xu. Ông cảm tạ mỗi khách bố thí lòng tri ân ngang nhau. Sau mười năm Tetsugen kiếm đũ số tiền để khởi sự công tác.
Nhưng lúc ấy sông Uji gây lụt lội. Nạn đói kéo theo. Tetsugen dùng tiền đã quyên góp được để in kinh, phân phát cứu đói. Rồi ông ta lại bắt đầu đi quyên góp trở lại.
Vài năm sau, một trận ôn dịch tràn lan khắp nơi. Lần nữa, Tetsugen lại phân phát hết tiền quyên góp để cứu nhân độ thế.
Ông lại khởi công lần thứ ba, và sau mười hai năm ông đạt được ước nguyện. Bản gỗ in bộ kinh đầu tiên hiện được trưng bày tại Tu viện Obaku ở Kyoto.
Người Nhật thường truyền tụng cho con cháu nghe rằng Tetsugen đã làm ra ba bộ kinh, và rằng hai bộ đầu còn vượt trội hơn bộ chót.
101 câu chuyện thiền, Ấn Tống Kinh Điển - VN thu quan
Friday, June 4, 2010
101 câu chuyện thiền, Nếu Yêu, Hãy Yêu Công Khai - VN thu quan
Hai mươi tăng sinh và một ni sinh tên là Eshun, đang tu thiền với một vị thiền sư. Eshun rất đẹp mặc dù đã cạo đầu và khoác áo nâu sòng. Vài tăng sinh đem lòng yêu trộm. Một tăng sinh viết cho cô một lá thư tình và mong được gặp riêng. Eshun không trả lời. Ngày hôm sau vừa hết buổi giảng của thầy, Eshun đứng dậy nói lớn, ám chỉ vào người đã gởi thư cho cô: "Nếu sư huynh nào đó yêu tôi thực sự thì ngay bây giờ hãy đến đây ôm tôi."
101 câu chuyện thiền, Nếu Yêu, Hãy Yêu Công Khai - VN thu quan
101 câu chuyện thiền, Nếu Yêu, Hãy Yêu Công Khai - VN thu quan
101 câu chuyện thiền, Mọi Thứ Đều Là Thượng Hảo Hạng - VN thu quan
Khi Banzan đi qua chợ nghe được câu chuyện đối thoại giửa anh hàng thịt và người khách mua.
"Bán cho tôi miếng thịt ngon nhất trong hàng của ông," khách bảo.
"Món gì trong hàng của tôi cũng đều thượng hảo hạng cả," anh hàng thịt trả lời. "- đây, bà không thể tìm thấy miếng thịt nào mà không phải là thượng hảo hạng."
Qua câu chuyện, Banzan chợt liễu ngộ.
"Bán cho tôi miếng thịt ngon nhất trong hàng của ông," khách bảo.
"Món gì trong hàng của tôi cũng đều thượng hảo hạng cả," anh hàng thịt trả lời. "- đây, bà không thể tìm thấy miếng thịt nào mà không phải là thượng hảo hạng."
Qua câu chuyện, Banzan chợt liễu ngộ.
101 câu chuyện thiền, Mọi Thứ Đều Là Thượng Hảo Hạng - VN thu quan
Con người ai cũng cho mình là tốt nhất, và ai cũng muốn dành cho mình những điều tốt nhất. :)
101 câu chuyện thiền, Mồ Hôi Của Kasan - VN thu quan
Kasan được mời chủ trì cho tang lễ của một vị quan đầu tỉnh.
Ngài chưa hề gặp giới quan quyền, quí tộc bao giờ nên lo lắng. Khi buổi lễ bắt đầu Kasan vả mồ hôi.
Sau đó, khi quay về tự viện ngài cho gọi tất cả môn đồ lại. Kasan thú nhận rằng ngài không xứng đáng làm sư phụ vì ngài không hành xử ở ngoài đời đồng mức giống như trong tự viện cô tịch. Rồi Kasan từ chức và trở thành học trò của một thiền sư khác. Tám năm sau, liễu ngộ, ngài quay trở lại với các môn đồ cũ.
Ngài chưa hề gặp giới quan quyền, quí tộc bao giờ nên lo lắng. Khi buổi lễ bắt đầu Kasan vả mồ hôi.
Sau đó, khi quay về tự viện ngài cho gọi tất cả môn đồ lại. Kasan thú nhận rằng ngài không xứng đáng làm sư phụ vì ngài không hành xử ở ngoài đời đồng mức giống như trong tự viện cô tịch. Rồi Kasan từ chức và trở thành học trò của một thiền sư khác. Tám năm sau, liễu ngộ, ngài quay trở lại với các môn đồ cũ.
101 câu chuyện thiền, Mồ Hôi Của Kasan - VN thu quan
101 câu chuyện thiền, Lời Mẹ Dạy - VN thu quan
Jiun, một vị Thiền sư phái Shingon, vốn là một học giả chữ Phạn thời Tokugawa. Lúc còn là thiền sinh, ngài hay thuyết giảng cho các đồng môn.
Khi hay tin, mẹ ngài liền viết cho ngài một lá thư: "Con ạ, Mẹ không tin rằng khi con hiến mình vào cửa Phật là cốt để trở thành một cuốn tự điển sống. Biện bác, sành sõi, vẽ vang và tự mãn chẳng đi đến đâu. Mẹ muốn con hãy dẹp cái trò lên lớp đó đi. Hãy dọn mình tĩnh tu trong một tiểu viện ở chốn thâm sơn cùng cốc. Dành mọi thì giờ cho việc thiền quán, may ra con mới ngộ được chánh đạo.
Khi hay tin, mẹ ngài liền viết cho ngài một lá thư: "Con ạ, Mẹ không tin rằng khi con hiến mình vào cửa Phật là cốt để trở thành một cuốn tự điển sống. Biện bác, sành sõi, vẽ vang và tự mãn chẳng đi đến đâu. Mẹ muốn con hãy dẹp cái trò lên lớp đó đi. Hãy dọn mình tĩnh tu trong một tiểu viện ở chốn thâm sơn cùng cốc. Dành mọi thì giờ cho việc thiền quán, may ra con mới ngộ được chánh đạo.
101 câu chuyện thiền, Lời Mẹ Dạy - VN thu quan
Chuyện vui cửa Thiền - Page 10 - Lịch Sử Việt Nam
Phật cầm một nhúm muối rồi hỏi A Nan:
- Này A Nan, nếu ta cho nhúm muối này vào cốc nước, thì cốc nước này có uống được không?
A Nan đáp:
- Nước sẽ mặn lắm, không uống được.
Phật lại hỏi:
- Thế giờ ta cho nhúm muối này xuống hồ nước này, thì nước hồ có uống được không?
A Nan thưa:
- Chỗ muối đó không đủ làm nước hồ mặn, nên vẫn uống được.
Phật nói:
- Đúng đó A Nan. Nếu tâm ta nhỏ như cốc nước, thì một chút muối này cũng khiến ta trở nên phiền não, mệt mỏi, chán nản, bực dọc, và người khác sẽ không thể uống được. Nhưng nếu tâm ta trải rộng ra như hồ nước, thì những thứ ấy sẽ không thể khiến ta phiền não, mệt mỏi, chán nản, bực dọc được, và ta vẫn là hồ nước ngọt cho mọi người.
Cũng vậy thôi bạn ạ. Nếu bạn tu mà không thấy tâm mình mở rộng, không thấy bản lĩnh mình tăng lên, không tăng trưởng được sự nhẫn nhục và lòng kiên trì, thì hẳn nhiên bạn sẽ cảm thấy vô cùng mệt mỏi và chán chường khi đạt đến độ uá hiểu chúng sinh, đau những nỗi đau của chúng sinh, xót xa những nỗi xót xa của chúng sinh, mất mát y như mất mát của chúng sinh, bạn hiểu bạn khóc bạn vật vã đau đớn tột cùng y như chính mình bị vậy... etc.
Nhưng bạn nghĩ xem Phật và các vị tu đắc đạo có như vậy không? Sao trông họ luôn từ bi và an lạc, luôn luôn thanh thản? Vì họ không bất lực, họ tràn đầy bản lĩnh và sức mạnh của lòng từ bi. Cho nên họ cũng chứng kiến như bạn, cũng đau nỗi đau của chúng sinh như bạn, nhưng họ không mệt mỏi, không buồn nản và không tìm cách chạy trốn, mà họ chỉ càng thấy mình phải ở lại để biến cõi ta bà này thành cõi tịnh độ. Còn bao giờ sự nghiệp của họ mới thành công, giải thoát được cho bao nhiêu người, thì đó là do duyên và do nghiệp của mỗi người, không phải là điều khiến họ nản lòng.
Chuyện vui cửa Thiền - Page 10 - Lịch Sử Việt Nam
- Này A Nan, nếu ta cho nhúm muối này vào cốc nước, thì cốc nước này có uống được không?
A Nan đáp:
- Nước sẽ mặn lắm, không uống được.
Phật lại hỏi:
- Thế giờ ta cho nhúm muối này xuống hồ nước này, thì nước hồ có uống được không?
A Nan thưa:
- Chỗ muối đó không đủ làm nước hồ mặn, nên vẫn uống được.
Phật nói:
- Đúng đó A Nan. Nếu tâm ta nhỏ như cốc nước, thì một chút muối này cũng khiến ta trở nên phiền não, mệt mỏi, chán nản, bực dọc, và người khác sẽ không thể uống được. Nhưng nếu tâm ta trải rộng ra như hồ nước, thì những thứ ấy sẽ không thể khiến ta phiền não, mệt mỏi, chán nản, bực dọc được, và ta vẫn là hồ nước ngọt cho mọi người.
Cũng vậy thôi bạn ạ. Nếu bạn tu mà không thấy tâm mình mở rộng, không thấy bản lĩnh mình tăng lên, không tăng trưởng được sự nhẫn nhục và lòng kiên trì, thì hẳn nhiên bạn sẽ cảm thấy vô cùng mệt mỏi và chán chường khi đạt đến độ uá hiểu chúng sinh, đau những nỗi đau của chúng sinh, xót xa những nỗi xót xa của chúng sinh, mất mát y như mất mát của chúng sinh, bạn hiểu bạn khóc bạn vật vã đau đớn tột cùng y như chính mình bị vậy... etc.
Nhưng bạn nghĩ xem Phật và các vị tu đắc đạo có như vậy không? Sao trông họ luôn từ bi và an lạc, luôn luôn thanh thản? Vì họ không bất lực, họ tràn đầy bản lĩnh và sức mạnh của lòng từ bi. Cho nên họ cũng chứng kiến như bạn, cũng đau nỗi đau của chúng sinh như bạn, nhưng họ không mệt mỏi, không buồn nản và không tìm cách chạy trốn, mà họ chỉ càng thấy mình phải ở lại để biến cõi ta bà này thành cõi tịnh độ. Còn bao giờ sự nghiệp của họ mới thành công, giải thoát được cho bao nhiêu người, thì đó là do duyên và do nghiệp của mỗi người, không phải là điều khiến họ nản lòng.
Chuyện vui cửa Thiền - Page 10 - Lịch Sử Việt Nam
101 câu chuyện thiền, Không Xa Cõi Phật - VN thu quan
Một sinh viên đại học đến thăm Gasan và hỏi: "Có bao giờ ngài đọc Thánh kinh không?
"Không, hãy đọc cho ta nghe," Gasan bảo.
Người sinh viên mở cuốn Thánh kinh và đọc một đoạn ở phần Thánh Ma-thi-ơ (Matthew): "Còn về đồ mặc, sao các ngươi lo lắng làm chi? Hãy gẫm xem hoa huệ ngoài đồng lớn lên thế nào: chẳng lao khổ, chẳng kéo chỉ, nhưng ta nói cùng các ngươi, dẫu Sa-lô-môn vinh hiển cả thể, cũng không mặc được bằng một trong những hoa ấy... Vậy nên, chớ lo lắng chi về ngày mai, vì ngày mai sẽ tự lo lắng cho ngày mai."
Gasan bảo: "Ai đã nói được những lời đó, ta cho là kẽ giác ngộ."
Người sinh viên đọc tiếp: "Hãy xin, sẽ cho, hãy tìm, sẽ gặp; hãy gỏ, sẽ mở. Vì ai xin thì được, ai tìm thì gặp, ai gỏ thì được mở cho."
Gasan nhận xét: "Thật tuyệt. Ai nói điều ấy không xa cõi Phật là bao."
"Không, hãy đọc cho ta nghe," Gasan bảo.
Người sinh viên mở cuốn Thánh kinh và đọc một đoạn ở phần Thánh Ma-thi-ơ (Matthew): "Còn về đồ mặc, sao các ngươi lo lắng làm chi? Hãy gẫm xem hoa huệ ngoài đồng lớn lên thế nào: chẳng lao khổ, chẳng kéo chỉ, nhưng ta nói cùng các ngươi, dẫu Sa-lô-môn vinh hiển cả thể, cũng không mặc được bằng một trong những hoa ấy... Vậy nên, chớ lo lắng chi về ngày mai, vì ngày mai sẽ tự lo lắng cho ngày mai."
Gasan bảo: "Ai đã nói được những lời đó, ta cho là kẽ giác ngộ."
Người sinh viên đọc tiếp: "Hãy xin, sẽ cho, hãy tìm, sẽ gặp; hãy gỏ, sẽ mở. Vì ai xin thì được, ai tìm thì gặp, ai gỏ thì được mở cho."
Gasan nhận xét: "Thật tuyệt. Ai nói điều ấy không xa cõi Phật là bao."
101 câu chuyện thiền, Không Xa Cõi Phật - VN thu quan
101 câu chuyện thiền, Không Vướng Mắc Vào Bụi Trần - VN thu quan
Zengetsu, một thiền sư Trung hoa vào đời nhà Đường, đã viết những lời khuyên này cho môn đồ:
Sống giữa hồng trần nhưng giử không bị vướng mắc vào bụi trần là chánh đạo của kẻ tu Thiền.
Khi nhìn thấy ai làm lành, hãy bắt chước. Khi nghe điều ác nên tránh.
Ngay khi ở trong phòng tối, cư xử như mình đối diện với khách quý. Bộc lộ cảm quan, nhưng không nên vượt quá cái thật tánh của mình.
Nghèo khổ là kho báu của ngươi, không nên đánh đổi nó cho một cuộc sống dễ dãi.
Một người có thể trông giống kẻ khùng, nhưng chưa hẳn đã thế. Biết đâu rằng y đang cẩn thận che dấu sự thông thái của mình.
Đức hạnh là thành quả của sự tự chế. Đừng đánh rơi chúng từ từng trời như là mưa hay tuyết.
Lòng khiêm tốn là nền tảng của mọi đức hạnh. Hãy để cho mọi người sống gần tự biết đến bạn trước khi bạn làm cho họ biết đến.
Một tấm lòng cao thượng không bao giờ trưng ra lộ liễu. Lời của nó như ngọc quý, vô giá, ít khi được bày biện.
Đối với một người thiền sinh chân thật, mỗi ngày là một ngày may mắn. Thời gian trôi qua nhưng y không bị lùi lại. Chẳng có sự vinh quang hay nhục nhả nào làm chùn ý.
Nên khắc khe với chính mình, chứ không phải với người khác. Không nên bàn cãi chuyện đúng hay sai.
Có vài điều, dù đúng, vẫn bị xem như là sai hằng bao nhiêu đời. Giá trị của điều phải, có thể được biết đến sau nhiều thế kỷ, cho nên không việc gì phải vội đòi hỏi có sự biết ơn tức thì.
Hãy sống với nhân duyên và dành kết quả cho luật tối thượng của vũ trụ. Hãy sống qua một ngày trong an nhiên tự tại.
Sống giữa hồng trần nhưng giử không bị vướng mắc vào bụi trần là chánh đạo của kẻ tu Thiền.
Khi nhìn thấy ai làm lành, hãy bắt chước. Khi nghe điều ác nên tránh.
Ngay khi ở trong phòng tối, cư xử như mình đối diện với khách quý. Bộc lộ cảm quan, nhưng không nên vượt quá cái thật tánh của mình.
Nghèo khổ là kho báu của ngươi, không nên đánh đổi nó cho một cuộc sống dễ dãi.
Một người có thể trông giống kẻ khùng, nhưng chưa hẳn đã thế. Biết đâu rằng y đang cẩn thận che dấu sự thông thái của mình.
Đức hạnh là thành quả của sự tự chế. Đừng đánh rơi chúng từ từng trời như là mưa hay tuyết.
Lòng khiêm tốn là nền tảng của mọi đức hạnh. Hãy để cho mọi người sống gần tự biết đến bạn trước khi bạn làm cho họ biết đến.
Một tấm lòng cao thượng không bao giờ trưng ra lộ liễu. Lời của nó như ngọc quý, vô giá, ít khi được bày biện.
Đối với một người thiền sinh chân thật, mỗi ngày là một ngày may mắn. Thời gian trôi qua nhưng y không bị lùi lại. Chẳng có sự vinh quang hay nhục nhả nào làm chùn ý.
Nên khắc khe với chính mình, chứ không phải với người khác. Không nên bàn cãi chuyện đúng hay sai.
Có vài điều, dù đúng, vẫn bị xem như là sai hằng bao nhiêu đời. Giá trị của điều phải, có thể được biết đến sau nhiều thế kỷ, cho nên không việc gì phải vội đòi hỏi có sự biết ơn tức thì.
Hãy sống với nhân duyên và dành kết quả cho luật tối thượng của vũ trụ. Hãy sống qua một ngày trong an nhiên tự tại.
101 câu chuyện thiền, Không Vướng Mắc Vào Bụi Trần - VN thu quan
101 câu chuyện thiền, Không Vướng Mắc - VN thu quan
Kitano Gempo, viện chủ của thiền viện Eihei, viên tịch vào năm 1933 lúc chín mươi hai tuổi. Suốt đời ngài đã giữ mình không để bị chấp trước vào vật gì. Lúc còn là một hành giả khất thực ở tuổi hai mươi ngài gặp một người đồng hành nghiện thuốc lá. Đang lúc cùng đi xuống núi, họ ngừng lại nghỉ dưới một gốc cây. Kẻ đồng hành mời ngài thuốc hút, ngài nhận vì đang đói bụng.
"Thật là thích thú làm sao khi hút," ngài nhận xét. Kẻ kia biếu ngài một ống điếu khác và gói thuốc lá rồi chia tay.
Kitano chợt nghĩ: "Nỗi thích thú này có thể gây trở ngại cho việc thiền định. Trước khi quá muộn, ta nên ngưng lại ngay." Rồi ngài liền quẳng điếu.
Khi hai mươi ba tuổi, ngài nghiên cứu Kinh Dịch, vũ trụ quan sâu xa nhất. Bấy giờ vào mùa đông và ngài cần áo ấm. Ngài viết thư cho sư phụ ở cách xa hằng trăm dặm xin giúp đỡ, và gởi cho một khách du lịch nhờ trao lại.
Mùa đông sắp hết mà chẳng thấy thư hồi âm hay quần áo ấm đâu cả. Kitano liền bốc quẻ Kinh Dịch xem bức thư có đi lạc hay không. Ngài đoán đúng, vì sau đó bức thư từ sư phụ chẳng thấy đả động gì đến quần áo ấm cả.
"Nếu ta dùng Kinh Dịch mà đoán đúng mọi chuyện thì ta sẽ xao lãng việc thiền định,"
Kitano cảm thấy như thế. Rồi ngài liền từ bỏ môn học kỳ bí đó và không bao giờ đoái hoài đến nó nữa.
Khi được hai mươi tám tuổi, ngài học lối viết thảo triện và thơ văn. Ngài trở thành điêu luyện đến nỗi sư phụ ngài còn ca ngợi. Kitano suy ghĩ: "Nếu ta không ngừng ngay, thì ta sẽ trở thành một thi sĩ, mà không phải là một thiền sư." Rồi ngài chẳng bao giờ viết một bài thơ nào nữa.
"Thật là thích thú làm sao khi hút," ngài nhận xét. Kẻ kia biếu ngài một ống điếu khác và gói thuốc lá rồi chia tay.
Kitano chợt nghĩ: "Nỗi thích thú này có thể gây trở ngại cho việc thiền định. Trước khi quá muộn, ta nên ngưng lại ngay." Rồi ngài liền quẳng điếu.
Khi hai mươi ba tuổi, ngài nghiên cứu Kinh Dịch, vũ trụ quan sâu xa nhất. Bấy giờ vào mùa đông và ngài cần áo ấm. Ngài viết thư cho sư phụ ở cách xa hằng trăm dặm xin giúp đỡ, và gởi cho một khách du lịch nhờ trao lại.
Mùa đông sắp hết mà chẳng thấy thư hồi âm hay quần áo ấm đâu cả. Kitano liền bốc quẻ Kinh Dịch xem bức thư có đi lạc hay không. Ngài đoán đúng, vì sau đó bức thư từ sư phụ chẳng thấy đả động gì đến quần áo ấm cả.
"Nếu ta dùng Kinh Dịch mà đoán đúng mọi chuyện thì ta sẽ xao lãng việc thiền định,"
Kitano cảm thấy như thế. Rồi ngài liền từ bỏ môn học kỳ bí đó và không bao giờ đoái hoài đến nó nữa.
Khi được hai mươi tám tuổi, ngài học lối viết thảo triện và thơ văn. Ngài trở thành điêu luyện đến nỗi sư phụ ngài còn ca ngợi. Kitano suy ghĩ: "Nếu ta không ngừng ngay, thì ta sẽ trở thành một thi sĩ, mà không phải là một thiền sư." Rồi ngài chẳng bao giờ viết một bài thơ nào nữa.
101 câu chuyện thiền, Không Vướng Mắc - VN thu quan
101 câu chuyện thiền, Không Có Lòng Nhân - VN thu quan
Trung hoa, có một bà lão đã tận tình săn sóc cho một vị tăng hơn hai mươi năm. Bà đã xây một thảo am và lo cơm nước cho ông ta để chuyên tọa thiền. Đến một hôm bà muốn thử xem ông đã tu hành đến đâu. Bà đi tìm được một cô gái xuân tình phơi phới. "Đến ôm ổng," bà bảo cô gái, "rồi hỏi ổng: Bây giờ làm trò gì nữa? "
Cô gái liền tìm đến vị tăng và chẳng bõ mất thì giờ nhào vào ôm và vuốt ve ông ta, rồi hỏi ông ta làm gì tiếp.
"Một cổ thụ mọc trên đá lạnh vào mùa đông," vị tăng trả lời một cách văn hoa. "Còn đâu lửa lòng."
Cô gái trở về thuật lại tự sự.
"Cứ nghĩ ta đã nuôi y hơn hai mươi năm!" Bà già kêu lên giận dữ, "Y đã không màng đến nhu cầu của cô, y đã không rũ lòng giải thích cho cô. Y không cần phải đáp ứng dục tình, nhưng ít ra cũng phải có chút lòng thương."
Nói liền, bà đến đốt rụi thảo am.
Cô gái liền tìm đến vị tăng và chẳng bõ mất thì giờ nhào vào ôm và vuốt ve ông ta, rồi hỏi ông ta làm gì tiếp.
"Một cổ thụ mọc trên đá lạnh vào mùa đông," vị tăng trả lời một cách văn hoa. "Còn đâu lửa lòng."
Cô gái trở về thuật lại tự sự.
"Cứ nghĩ ta đã nuôi y hơn hai mươi năm!" Bà già kêu lên giận dữ, "Y đã không màng đến nhu cầu của cô, y đã không rũ lòng giải thích cho cô. Y không cần phải đáp ứng dục tình, nhưng ít ra cũng phải có chút lòng thương."
Nói liền, bà đến đốt rụi thảo am.
101 câu chuyện thiền, Không Có Lòng Nhân - VN thu quan
101 câu chuyện thiền, Kẻ Cướp Trở Thành Môn Đồ - VN thu quan
Vào một đêm trong khi Shichiri Kojun đang tụng kinh thì một tên cướp xông vào với lưởi dao bén đòi tiền hoặc giết ngài.
Shichiri bảo: "Xin đừng náo động. Ông có thể lấy tiền trong ngăn kéo kia", và tiếp tục tụng kinh.
Giây lát sau, ngài kêu lên: "Xin đừng lấy hết tất cả. Ta cần một ít để đóng thuế ngày mai."
Kẽ đạo chích gom góp gần hết và sắp sửa chuồn. "Hãy biết cảm ơn thí chủ chứ," Shichiri nói thêm. Tên cướp nói lời cảm ơn và biến mất.
Vài ngày sau tên cướp bị bắt và thú tất cả mọi tội, trong đó có chuyện liên quan đến Shichiri. Khi Shichiri được vời đến để đối chứng, ngài bảo: "Ông này không phải là kẽ cướp, ít ra là phần có liên quan đến bần tăng. Bần tăng biếu ông ấy một ít tiền và ông ta có tỏ lời cảm ơn."
Sau thời gian ngồi tù, người đàn ông kia tìm đến Shichiri và trở thành đệ tử của ngài.
Shichiri bảo: "Xin đừng náo động. Ông có thể lấy tiền trong ngăn kéo kia", và tiếp tục tụng kinh.
Giây lát sau, ngài kêu lên: "Xin đừng lấy hết tất cả. Ta cần một ít để đóng thuế ngày mai."
Kẽ đạo chích gom góp gần hết và sắp sửa chuồn. "Hãy biết cảm ơn thí chủ chứ," Shichiri nói thêm. Tên cướp nói lời cảm ơn và biến mất.
Vài ngày sau tên cướp bị bắt và thú tất cả mọi tội, trong đó có chuyện liên quan đến Shichiri. Khi Shichiri được vời đến để đối chứng, ngài bảo: "Ông này không phải là kẽ cướp, ít ra là phần có liên quan đến bần tăng. Bần tăng biếu ông ấy một ít tiền và ông ta có tỏ lời cảm ơn."
Sau thời gian ngồi tù, người đàn ông kia tìm đến Shichiri và trở thành đệ tử của ngài.
101 câu chuyện thiền, Kẻ Cướp Trở Thành Môn Đồ - VN thu quan
101 câu chuyện thiền, Hối Cải Thực Sự - VN thu quan
Ryokan hiến mình vào việc tu học Thiền. Một hôm ngài nghe nói đến chuyện người cháu phung phí tiền của cho một đào nương, mặc cho sự nguyền rủa của bà con quyến thuộc. Vã lại y là người thay thế Ryokan trong việc cai quản tài sản của gia đình, mà gia sản xem ra có cơ tan biến, cho nên thân nhân mới đến nhờ ngài ra tay.
Ryokan phải du hành một đoạn đường xa để gặp người cháu mà ngài cách xa đã nhiều năm. Người cháu vui mừng gặp lại người chú và mời ở lại qua đêm.
Cả đêm Ryokan ngồi tham thiền. Đến sáng, gần lúc ra đi ngài bảo người trẻ tuổi: "Ta đã già, tay run. Cháu có thể giúp ta cột dây chiếc dép rơm được không?"
Người cháu hăng hái giúp liền. "Cảm ơn cháu," Ryokan kết thúc, "cháu thấy không, một người trở nên già và yếu mỗi ngày. Hãy bảo trọng lấy thân." Xong Ryokan ra đi, không hề nhắc một lời nào đến cô đào nương hoặc lời quở trách của thân nhân. Nhưng kể từ sáng hôm ấy, tính hoang phí của người cháu chấm dứt.
Ryokan phải du hành một đoạn đường xa để gặp người cháu mà ngài cách xa đã nhiều năm. Người cháu vui mừng gặp lại người chú và mời ở lại qua đêm.
Cả đêm Ryokan ngồi tham thiền. Đến sáng, gần lúc ra đi ngài bảo người trẻ tuổi: "Ta đã già, tay run. Cháu có thể giúp ta cột dây chiếc dép rơm được không?"
Người cháu hăng hái giúp liền. "Cảm ơn cháu," Ryokan kết thúc, "cháu thấy không, một người trở nên già và yếu mỗi ngày. Hãy bảo trọng lấy thân." Xong Ryokan ra đi, không hề nhắc một lời nào đến cô đào nương hoặc lời quở trách của thân nhân. Nhưng kể từ sáng hôm ấy, tính hoang phí của người cháu chấm dứt.
101 câu chuyện thiền, Hối Cải Thực Sự - VN thu quan
101 câu chuyện thiền, Học Im Lặng - VN thu quan
Đệ tử phái Tendai thường tập quán tưởng trước khi Thiền được du nhập vào Nhật. Có bốn tăng sinh kết bạn và quyết giữ thanh tịnh trong bảy ngày.
Ngày đầu cả bốn đều im lặng. Việc trầm tư mặc tưởng của họ khởi đầu tốt đẹp, nhưng khi đêm xuống và ngọn đèn dầu tàn dần thì một vị buộc miệng gọi kẻ hầu: "Rót thêm dầu."
Tăng sinh thứ nhì ngạc nhiên khi nghe người thứ nhất lên tiếng. "Chúng ta không nên nói lời nào mới phải," ông phê bình.
"Cả hai vị ngu quá. Tại sao lại nói chuyện?" người thứ ba hỏi.
"Chỉ có tôi là không nói tiếng nào," tăng sinh thứ tư kết luận.
Ngày đầu cả bốn đều im lặng. Việc trầm tư mặc tưởng của họ khởi đầu tốt đẹp, nhưng khi đêm xuống và ngọn đèn dầu tàn dần thì một vị buộc miệng gọi kẻ hầu: "Rót thêm dầu."
Tăng sinh thứ nhì ngạc nhiên khi nghe người thứ nhất lên tiếng. "Chúng ta không nên nói lời nào mới phải," ông phê bình.
"Cả hai vị ngu quá. Tại sao lại nói chuyện?" người thứ ba hỏi.
"Chỉ có tôi là không nói tiếng nào," tăng sinh thứ tư kết luận.
101 câu chuyện thiền, Học Im Lặng - VN thu quan
Friday, May 21, 2010
Chuyện vui cửa Thiền - Page 9 - Lịch Sử Việt Nam
Trích:
| Sống rốt cục cũng chỉ là 1 hành trình vật vã để tìm đến cái chết Tất cả rồi ai cũng sẽ phải chết. Tại sao ta ko chết lúc trẻ. Lúc mà tóc còn xanh và mắt còn long lanh, da còn mịn và môi còn hồng. Để cho ngta ai cũng nhớ đến mình với 1 hình tượng đẹp.. |
Lão Xương có nghe như sau: Một chiếc thuyền gặp nạn, những người trên thuyền đều chết cả. Trong đó có một cô gái trẻ đẹp, thấy tiếc nuối nhan sắc của mình nên mãi không chịu rời bỏ thân xác ấy để tìm một kiếp mới. Rốt cuộc thì cô đầu thai thành con giòi, ăn thân xác của mình.
Đi tu mà chỉ xác định giải thoát cho mình, ấy là cái vị ngã, ngăn cản không cho ta đến giải thoát. Cho nên tu hành nghiêm chỉnh là kết hợp song song giữa tu và làm phước cõi trần. Làm phước chính là tu lòng từ bi, thiếu lòng từ bi thì không thể đắc đạo. Tuy vậy cũng không sa đà vào việc làm phước mà sao lãng việc tu.
Vậy thì bận tâm gì đến chết già hay chết trẻ? Cứ "thuận theo Đạo", tu hành và làm phước cho thế gian, lúc nào hết duyên với cõi trần thì nhẹ nhàng buông xả cái thân xác này mà thôi.
Chuyện vui cửa Thiền - Page 9 - Lịch Sử Việt Nam
Sunday, May 9, 2010
chim non :)
Chim non đang bay về phía nam để tránh rét thì bị đông cứng và rơi
xuống một cánh đồng. Trong khi nó đang nằm đó thì Bò cái tới và phóng
uế lên người nó. Trong lúc bị đông cứng vì rét, bãi phân bò lại làm
cho Chim non thấy ấm lên và tỉnh lại. Nó cất tiếng hót vì sung sướng
thì một chú mèo đi qua nghe thấy. Mèo tìm đến bãi phân bò, lôi Chim
non ra rồi ăn thịt.
Bài học rút ra:
1) Không phải bất cứ ai vấy bẩn lên bạn cũng đều là kẻ thù.
2) Không phải bất cứ ai kéo bạn ra khỏi chốn bẩn thỉu cũng đều là bạn.
3) Khi bạn đang ở sâu trong chốn bẩn thỉu, hãy im lặng.
Lê Vũ - Bình địa mộc. - Nguyễn Chí Vịnh!
xuống một cánh đồng. Trong khi nó đang nằm đó thì Bò cái tới và phóng
uế lên người nó. Trong lúc bị đông cứng vì rét, bãi phân bò lại làm
cho Chim non thấy ấm lên và tỉnh lại. Nó cất tiếng hót vì sung sướng
thì một chú mèo đi qua nghe thấy. Mèo tìm đến bãi phân bò, lôi Chim
non ra rồi ăn thịt.
Bài học rút ra:
1) Không phải bất cứ ai vấy bẩn lên bạn cũng đều là kẻ thù.
2) Không phải bất cứ ai kéo bạn ra khỏi chốn bẩn thỉu cũng đều là bạn.
3) Khi bạn đang ở sâu trong chốn bẩn thỉu, hãy im lặng.
Lê Vũ - Bình địa mộc. - Nguyễn Chí Vịnh!
Bò tót và gà tây
Bài học 2:
Gà tây nói với Bò tót:
- Tôi muốn nhảy lên ngọn cây kia nhưng tôi không đủ sức.
- Vậy thì rỉa phân tôi đi. - Bò tót khuyên.
Gà tây mổ phân của Bò tót và thấy thực sự đủ sức để nhảy lên cành cây
thứ nhất. Ngày tiếp theo, sau khi ăn một ít phân bò, Gà tây nhảy được
đến cành cây thứ hai. Cứ thế đến nửa tháng sau, Gà tây đã lên tới ngọn
cây. Không lâu sau đó, Gà tây bị một bác nông dân bắn rơi.
Bài học rút ra: Sự ngu ngốc có thể đưa bạn lên đỉnh cao nhưng không
thể giữ bạn ở đó mãi.
Lê Vũ - Bình địa mộc. - Nguyễn Chí Vịnh!
Gà tây nói với Bò tót:
- Tôi muốn nhảy lên ngọn cây kia nhưng tôi không đủ sức.
- Vậy thì rỉa phân tôi đi. - Bò tót khuyên.
Gà tây mổ phân của Bò tót và thấy thực sự đủ sức để nhảy lên cành cây
thứ nhất. Ngày tiếp theo, sau khi ăn một ít phân bò, Gà tây nhảy được
đến cành cây thứ hai. Cứ thế đến nửa tháng sau, Gà tây đã lên tới ngọn
cây. Không lâu sau đó, Gà tây bị một bác nông dân bắn rơi.
Bài học rút ra: Sự ngu ngốc có thể đưa bạn lên đỉnh cao nhưng không
thể giữ bạn ở đó mãi.
Lê Vũ - Bình địa mộc. - Nguyễn Chí Vịnh!
Cáo và Quạ
Bài học 1:
Thấy Quạ ngồi trên cây cả ngày mà không làm gì, Thỏ con hỏi:
- Tôi có thể ngồi cả ngày mà không làm gì như anh không?
- Tất nhiên, tại sao lại không. - Quạ nói.
Vậy là Thỏ con ngồi dưới đất nghỉ ngơi. Bỗng nhiên, Cáo già xuất hiện,
vồ lấy Thỏ và ăn thịt.
Bài học rút ra: Để được ngồi không, bạn phải ngồi ở vị trí rất, rất cao.
Lê Vũ - Bình địa mộc. - Nguyễn Chí Vịnh!
Thấy Quạ ngồi trên cây cả ngày mà không làm gì, Thỏ con hỏi:
- Tôi có thể ngồi cả ngày mà không làm gì như anh không?
- Tất nhiên, tại sao lại không. - Quạ nói.
Vậy là Thỏ con ngồi dưới đất nghỉ ngơi. Bỗng nhiên, Cáo già xuất hiện,
vồ lấy Thỏ và ăn thịt.
Bài học rút ra: Để được ngồi không, bạn phải ngồi ở vị trí rất, rất cao.
Lê Vũ - Bình địa mộc. - Nguyễn Chí Vịnh!
Monday, April 19, 2010
The Voice of Happiness
Sau khi Bankei qua đời, người đàn ông mù sống gần với chùa của thiền sư nói đã nói với một người bạn: "Từ khi tôi bị mù, tôi không thể thấy mặt của mọi người, nên tôi phải phán đoán tính cách của người ta qua giọng nói. Thông thường, khi tôi nghe một người chúc tụng ai đó về sự thành công và hạnh phúc, tôi cũng nghe thấy những âm thanh của sự ghen tỵ. Khi một lời chia buồn được nói ra, cũng là lúc tôi nghe thấy sự hài lòng và mãn nguyện, như thể nỗi đau của người này sẽ làm tăng thêm niềm vui của những người khác."
"Chỉ với giọng nói của Bankei, với tất cả kinh nghiệm của mình, tôi thấy nó luôn thành thật. Khi ông bày tỏ niềm vui, tôi chẳng thấy gì người hạnh phúc, và bất cứ khi nào ông ấy nói về nỗi buồn, đau khổ là điều duy nhất tôi được nghe."
After Bankei had passed away, a blind man who lived near the master's temple told a friend: "Since I am blind, I cannot watch a person's face, so I must judge his character by the sound of his voice. Ordinarily when I hear someone congratulate another upon his happiness or success, I also hear a secret tone of envy. When condolence is expressed for the misfortune of another, I hear pleasure and satisfaction, as if the one condoling was really glad there was something left to gain in his own world.
"In all my experience, however, Bankei's voice was always sincere. Whenever he expressed happiness, I heard nothing but happiness, and whenever he expressed sorrow, sorrow was all I heard."
"Chỉ với giọng nói của Bankei, với tất cả kinh nghiệm của mình, tôi thấy nó luôn thành thật. Khi ông bày tỏ niềm vui, tôi chẳng thấy gì người hạnh phúc, và bất cứ khi nào ông ấy nói về nỗi buồn, đau khổ là điều duy nhất tôi được nghe."
After Bankei had passed away, a blind man who lived near the master's temple told a friend: "Since I am blind, I cannot watch a person's face, so I must judge his character by the sound of his voice. Ordinarily when I hear someone congratulate another upon his happiness or success, I also hear a secret tone of envy. When condolence is expressed for the misfortune of another, I hear pleasure and satisfaction, as if the one condoling was really glad there was something left to gain in his own world.
"In all my experience, however, Bankei's voice was always sincere. Whenever he expressed happiness, I heard nothing but happiness, and whenever he expressed sorrow, sorrow was all I heard."
A Cup of Tea
Nan-in, một thiền sư người Nhật trong thời kỳ Meiji(1868-1912), tiếp đón một giáo sư đại học, người muốn đến để hỏi về Thiền.
Nan-in rót trà mời khách. Cốc nước đã đầy, nhưng ông vẫn tiếp tục rót.
Ông giáo sư ngồi nhìn nước tràn ra ngoài đến khi không thể kìm lòng được. "Nó đầy rồi, không thể rót thêm nữa đâu" vị giáo sư nói.
"Giống như chiếc cốc này, trong đầu ngài đã đầy những quan điểm và định kiến rồi. Vậy làm sao tôi có thể chỉ cho ngài về Thiền được." Thiền sư trả lời.
Nan-in rót trà mời khách. Cốc nước đã đầy, nhưng ông vẫn tiếp tục rót.
Ông giáo sư ngồi nhìn nước tràn ra ngoài đến khi không thể kìm lòng được. "Nó đầy rồi, không thể rót thêm nữa đâu" vị giáo sư nói.
"Giống như chiếc cốc này, trong đầu ngài đã đầy những quan điểm và định kiến rồi. Vậy làm sao tôi có thể chỉ cho ngài về Thiền được." Thiền sư trả lời.
Nan-in, a Japanese master during the Meiji era (1868-1912), received a university professor who came to inquire about Zen.
Nan-in served tea. He poured his visitor's cup full, and then kept on pouring.
The professor watched the overflow until he no longer could restrain himself. "It is overfull. No more will go in!"
"Like this cup," Nan-in said, "you are full of your own opinions and speculations. How can I show you Zen unless you first empty your cup?Sunday, April 18, 2010
Bauxite Việt Nam: Thư giãn Chủ nhật: Gửi người một ngàn năm sau
Lão Hâm
Chính quyền Thành phố Hà Nội bỏ hẳn ý định gửi thư cho Thăng Long một ngàn năm sau, hình như do khó xác định nội dung thư gồm những gì.
Với tư cách cá nhân, tôi nghĩ mình viết cũng chả ai cấm.
Tạm thời dưới đây là bản thảo bức thư, tôi sẽ rất cảm kích nếu bạn đọc đóng góp ý kiến để tôi hoàn chỉnh bức thư đến mức tối đa có thể, chẳng gì cũng là thư gửi xuyên thiên niên kỷ?
“Bạn thân mến!
Trước hết tôi xin nói rằng khi bạn đọc bức thư này thì tôi đã trên 1000 tuổi, nếu tôi còn sống. Tất nhiên là không ai sống được lâu thế, nên bạn hãy tin chắc rằng tôi đã thăng từ lâu rồi. Và cũng tin chắc luôn là người chết không bao giờ nói xạo (đúng ra người Thăng Long hay dùng từ “nói dối” hơn, nhưng trong trường hợp này dùng từ “nói dối” nghe có vẻ lừa đảo).
Thứ nữa, nếu trung bình thế hệ nọ cách thế hệ kia 25 năm thì tính ra bạn sau tôi đúng 40 thế hệ. Biết đâu bạn lại là hậu duệ 40 đời của tôi cũng nên?
Vậy mà tôi vẫn cứ gọi bạn là “bạn”, chả nhẽ lại viết “Chút chít bốn mươi đời thân mến ơi”! – Nghe buồn cười quá?
Hơn nữa, gọi nhau là “bạn” cho nó lịch sự. Người Thăng Long nổi tiếng là lịch sự, trừ những lúc họ chửi nhau. Mà họ chửi nhau không như cơm bữa giống các nơi khác đâu nhé, họ chỉ chửi trong khoảng thời gian giữa các bữa ăn thôi.
Tôi đoán là ở thời đại của các bạn, nghĩa là 1000 năm sau khi tôi viết lá thư này, loài người có những tiến bộ khoa học công nghệ khủng khiếp. Các bạn dùng một loại năng lượng mới mà loài người chúng tôi hiện nay chưa biết đến. Các bạn sẽ có những phương tiện giao thông nhanh tới mức đi từ Hà Nội (tức là Thăng Long đó!) sang Newyork chỉ mất đúng bốn phút.
Tôi cũng đoán là 1000 năm nữa Thăng Long có thể mở rộng đến Bạc Liêu, Cà Mau chỉ là huyện ngoại thành. Tôi đoán thế là căn cứ vào tốc độ mở rộng của thành phố hiện nay, biết đâu có khi lúc đó Cà Mau cũng nằm trong Thăng Long thành rồi cũng nên?
Nói thế để thấy chúng tôi không thể nào tưởng tượng được về cuộc sống của các bạn. Các bạn thì lại có thể biết về chúng tôi qua các thư viện điện tử mà chẳng cần phải nhờ đến công tác khảo cổ khá tốn kém và phiền phức làm gì.
Vì vậy tôi xin hạn chế nội dung bức thư này ở những thứ chắc là sẽ không có trong thư viện điện tử của các bạn.
Người dân Thăng Long chúng tôi tự hào về rất nhiều cái nhất của mình. Năm nay, kỷ niệm một ngàn năm thành phố, Hà Nội đã nằm trong tốp 10 thành phố lớn nhất hành tinh, ít nhất cũng là về diện tích, các chỉ số khác từ từ chúng tôi cũng sẽ vào top ten sau.
Tôi xin liệt kê một số điểm nhất của chúng tôi:
- Giống như người dân cả nước, người Hà Nội thích đi xe hai bánh. Tục ngữ có cách nói ví von: “Vững như kiềng ba chân” thế nhưng chúng tôi chỉ cần vững ba chân khi đứng, ngồi hoặc nằm, chứ khi di chuyển chỗ đông người thì lại chỉ dùng hai chân hoặc hai bánh. Mật độ xe hai bánh trên một mét vuông đường của chúng tôi là cao nhất thế giới và đương nhiên là tỷ lệ tai nạn giao thông trên đầu người của chúng tôi cũng vào loại cao nhất.
- Trong tình hình đó, mật độ cảnh sát giao thông chia trung bình trên số ngã tư cũng là cao nhất thế giới. Nếu bạn sinh ra vào cùng thời với chúng tôi, bạn có thể thấy ở một ngã tư có đến ba anh cảnh sát giao thông vất vả chỉ huy các luồng xe gồm toàn con rồng cháu tiên phi như người trời hoặc như cướp biển.
- Hà Nội là thành phố hào hoa, nó có chiều dày văn hóa kiến trúc theo kiểu “trăm hoa đua nở”, nhà nào muốn nở kiều gì thì nở kiểu đó theo phương châm nhà này khoái mẹ nhà kia, nghĩa là nhà này muốn làm bố nhà kia. Nhờ đó Hà Nội mới có những nhà siêu mỏng, siêu sâu, siêu lênh khênh và siêu lởm khởm.
- Các đường phố thì chúng tôi cương quyết không bắt chước bọn thực dân Pháp. Chúng nó làm đường thẳng quá, trông rất đơn điệu. Chúng tôi làm đường phải uốn lượn, cố tình làm mềm mại không gian đô thị và đó là một cách hạn chế tốc độ giao thông hữu hiệu.
Tôi xin lỗi là điều tôi vừa nêu bạn có thể tìm thấy trong bản đồ Hà Nội năm 2010. Cái mà bạn không thể biết được là vỉa hè Hà nội. Chúng tôi là một thành phố yêu vỉa hè nhất thế giới. Tình yêu đó thể hiện ở hai chỗ. Một là cái gì chúng tôi cũng làm trên vỉa hè hết: buôn bán, sửa xe, đá bóng, giải khát và làm động tác ngược của giải khát. Bạn có hiểu động tác ngược của giải khát là gì không? Đó nôm na là tè. Tè trên vỉa hè sướng hơn quận công nhiều, bạn hãy vào Google tra cụm từ “…vạn đại quận công” là biết ngay ấy mà!
Chỗ thứ hai thể hiện tình yêu vỉa hè là cứ vài năm chúng tôi lát lại vỉa hè một lần. Hà nội là thành phố làm lại vỉa hè nhiều và nhanh nhất thế giới. Vì biết chắc là vài năm sau sẽ làm lại nên công nhân của chúng tôi làm rất chi là tài tử, bôi bôi lấp lấp như bà già thoa phấn, thoa không khéo, gió hơi mạnh một chút là phấn bay lả tả.
Khi sửa vỉa hè thì khách bộ hành phải nhao xuống đường, tranh chấp với các loại xe cơ giới trong cuộc đấu tranh “ai thắng ai” bất phân thắng bại. Cuộc đấu tranh này càng trở nên khốc liệt khi vỉa hè đang thay áo mà đường phố thì bị con ả Thị Đào ra tay đào bới. Tôi đảm bảo rằng các bức ảnh vệ tinh chụp đường phố Hà Nội thời chúng tôi có phản ảnh rõ tình trạng đào bới, tôi chỉ muốn giải thích cho bạn và các bạn của bạn rõ nguyên nhân tất cả là do cái con mụ Thị Đào lẳng lơ đó mà thôi.
- Hà Nội là thành phố có nhiều hồ nhất thế giới, theo thống kê mới nhất chúng tôi (đã mở rộng) có tất cả là 117 hồ, to nhất là Hồ Tây, bét nhất cũng rộng một vài ha (cái này đọc là “écta”, tuy vậy có cô phát thanh viên Đài Truyền hình Việt nam vẫn xướng là “ha”, viết sao đọc vậy mà, cứ như sắp cười ha ha vậy!), bé nữa thì không tính, lúc đó chúng tôi gọi là ao.
Trong số 117 hồ nói trên gần 100 hồ đang kêu là sắp chết. Hồ mà cũng sợ chết mới là hay chứ?
Ở Hồ Gươm, hay còn gọi là Hồ Hoàn Kiếm, có cụ Rùa 500 tuổi, cụ này là thần Kim Quy nhận lại thanh gươm từ tay Lê Lợi sau khi Lê Lợi dùng thanh gươm này để đánh thắng giặc ngoại xâm. Chúng tôi rất mong không có một lần nào nữa cụ lại phải trao gươm thần, ý là mong chẳng bao giờ phải đánh giặc ngoại xâm nữa. Sợ nhất là giặc nội xâm, mà giặc nội xâm thì gươm thần vô tác dụng.
Thư đã dài, tôi kể sơ sơ mấy cái nhất của Hà Nội để bạn thấy chúng tôi có nhiều niềm tự hào lắm, song đức khiêm tốn không cho phép chúng tôi nói dài về những cái nhất của mình, mà có nói ra chắc gì bạn đã tin, ví như việc bác sĩ ăn tiền bệnh nhân, học sinh đánh thầy giáo hay nguyên cả cái Bộ giáo dục ra một văn bản có chỗ sai rồi kêu là do lỗi đánh máy…
Không phải vì tôi không đủ tiền thuê đúc một khối bê tông, bỏ bức thư này vào trong đó để đúng 1000 năm sau bạn đập khối bê tông ra xem, mà tôi sợ thợ họ ăn bớt vật liệu, mới vài chục năm khối bê tông đã nát vụn thì phí công.
Tốt nhất là tôi gửi qua Bưu điện Bờ Hồ, theo cung cách làm ăn của họ, chắc cũng phải 1000 năm sau thư mới đến tay người nhận.
Người viết thư
Lão Hâm đã ký”
Bauxite Việt Nam: Thư giãn Chủ nhật: Gửi người một ngàn năm sau
Chính quyền Thành phố Hà Nội bỏ hẳn ý định gửi thư cho Thăng Long một ngàn năm sau, hình như do khó xác định nội dung thư gồm những gì.
Với tư cách cá nhân, tôi nghĩ mình viết cũng chả ai cấm.
Tạm thời dưới đây là bản thảo bức thư, tôi sẽ rất cảm kích nếu bạn đọc đóng góp ý kiến để tôi hoàn chỉnh bức thư đến mức tối đa có thể, chẳng gì cũng là thư gửi xuyên thiên niên kỷ?
“Bạn thân mến!
Trước hết tôi xin nói rằng khi bạn đọc bức thư này thì tôi đã trên 1000 tuổi, nếu tôi còn sống. Tất nhiên là không ai sống được lâu thế, nên bạn hãy tin chắc rằng tôi đã thăng từ lâu rồi. Và cũng tin chắc luôn là người chết không bao giờ nói xạo (đúng ra người Thăng Long hay dùng từ “nói dối” hơn, nhưng trong trường hợp này dùng từ “nói dối” nghe có vẻ lừa đảo).
Thứ nữa, nếu trung bình thế hệ nọ cách thế hệ kia 25 năm thì tính ra bạn sau tôi đúng 40 thế hệ. Biết đâu bạn lại là hậu duệ 40 đời của tôi cũng nên?
Vậy mà tôi vẫn cứ gọi bạn là “bạn”, chả nhẽ lại viết “Chút chít bốn mươi đời thân mến ơi”! – Nghe buồn cười quá?
Hơn nữa, gọi nhau là “bạn” cho nó lịch sự. Người Thăng Long nổi tiếng là lịch sự, trừ những lúc họ chửi nhau. Mà họ chửi nhau không như cơm bữa giống các nơi khác đâu nhé, họ chỉ chửi trong khoảng thời gian giữa các bữa ăn thôi.
Tôi đoán là ở thời đại của các bạn, nghĩa là 1000 năm sau khi tôi viết lá thư này, loài người có những tiến bộ khoa học công nghệ khủng khiếp. Các bạn dùng một loại năng lượng mới mà loài người chúng tôi hiện nay chưa biết đến. Các bạn sẽ có những phương tiện giao thông nhanh tới mức đi từ Hà Nội (tức là Thăng Long đó!) sang Newyork chỉ mất đúng bốn phút.
Tôi cũng đoán là 1000 năm nữa Thăng Long có thể mở rộng đến Bạc Liêu, Cà Mau chỉ là huyện ngoại thành. Tôi đoán thế là căn cứ vào tốc độ mở rộng của thành phố hiện nay, biết đâu có khi lúc đó Cà Mau cũng nằm trong Thăng Long thành rồi cũng nên?
Nói thế để thấy chúng tôi không thể nào tưởng tượng được về cuộc sống của các bạn. Các bạn thì lại có thể biết về chúng tôi qua các thư viện điện tử mà chẳng cần phải nhờ đến công tác khảo cổ khá tốn kém và phiền phức làm gì.
Vì vậy tôi xin hạn chế nội dung bức thư này ở những thứ chắc là sẽ không có trong thư viện điện tử của các bạn.
Người dân Thăng Long chúng tôi tự hào về rất nhiều cái nhất của mình. Năm nay, kỷ niệm một ngàn năm thành phố, Hà Nội đã nằm trong tốp 10 thành phố lớn nhất hành tinh, ít nhất cũng là về diện tích, các chỉ số khác từ từ chúng tôi cũng sẽ vào top ten sau.
Tôi xin liệt kê một số điểm nhất của chúng tôi:
- Giống như người dân cả nước, người Hà Nội thích đi xe hai bánh. Tục ngữ có cách nói ví von: “Vững như kiềng ba chân” thế nhưng chúng tôi chỉ cần vững ba chân khi đứng, ngồi hoặc nằm, chứ khi di chuyển chỗ đông người thì lại chỉ dùng hai chân hoặc hai bánh. Mật độ xe hai bánh trên một mét vuông đường của chúng tôi là cao nhất thế giới và đương nhiên là tỷ lệ tai nạn giao thông trên đầu người của chúng tôi cũng vào loại cao nhất.
- Trong tình hình đó, mật độ cảnh sát giao thông chia trung bình trên số ngã tư cũng là cao nhất thế giới. Nếu bạn sinh ra vào cùng thời với chúng tôi, bạn có thể thấy ở một ngã tư có đến ba anh cảnh sát giao thông vất vả chỉ huy các luồng xe gồm toàn con rồng cháu tiên phi như người trời hoặc như cướp biển.
- Hà Nội là thành phố hào hoa, nó có chiều dày văn hóa kiến trúc theo kiểu “trăm hoa đua nở”, nhà nào muốn nở kiều gì thì nở kiểu đó theo phương châm nhà này khoái mẹ nhà kia, nghĩa là nhà này muốn làm bố nhà kia. Nhờ đó Hà Nội mới có những nhà siêu mỏng, siêu sâu, siêu lênh khênh và siêu lởm khởm.
- Các đường phố thì chúng tôi cương quyết không bắt chước bọn thực dân Pháp. Chúng nó làm đường thẳng quá, trông rất đơn điệu. Chúng tôi làm đường phải uốn lượn, cố tình làm mềm mại không gian đô thị và đó là một cách hạn chế tốc độ giao thông hữu hiệu.
Tôi xin lỗi là điều tôi vừa nêu bạn có thể tìm thấy trong bản đồ Hà Nội năm 2010. Cái mà bạn không thể biết được là vỉa hè Hà nội. Chúng tôi là một thành phố yêu vỉa hè nhất thế giới. Tình yêu đó thể hiện ở hai chỗ. Một là cái gì chúng tôi cũng làm trên vỉa hè hết: buôn bán, sửa xe, đá bóng, giải khát và làm động tác ngược của giải khát. Bạn có hiểu động tác ngược của giải khát là gì không? Đó nôm na là tè. Tè trên vỉa hè sướng hơn quận công nhiều, bạn hãy vào Google tra cụm từ “…vạn đại quận công” là biết ngay ấy mà!
Chỗ thứ hai thể hiện tình yêu vỉa hè là cứ vài năm chúng tôi lát lại vỉa hè một lần. Hà nội là thành phố làm lại vỉa hè nhiều và nhanh nhất thế giới. Vì biết chắc là vài năm sau sẽ làm lại nên công nhân của chúng tôi làm rất chi là tài tử, bôi bôi lấp lấp như bà già thoa phấn, thoa không khéo, gió hơi mạnh một chút là phấn bay lả tả.
Khi sửa vỉa hè thì khách bộ hành phải nhao xuống đường, tranh chấp với các loại xe cơ giới trong cuộc đấu tranh “ai thắng ai” bất phân thắng bại. Cuộc đấu tranh này càng trở nên khốc liệt khi vỉa hè đang thay áo mà đường phố thì bị con ả Thị Đào ra tay đào bới. Tôi đảm bảo rằng các bức ảnh vệ tinh chụp đường phố Hà Nội thời chúng tôi có phản ảnh rõ tình trạng đào bới, tôi chỉ muốn giải thích cho bạn và các bạn của bạn rõ nguyên nhân tất cả là do cái con mụ Thị Đào lẳng lơ đó mà thôi.
- Hà Nội là thành phố có nhiều hồ nhất thế giới, theo thống kê mới nhất chúng tôi (đã mở rộng) có tất cả là 117 hồ, to nhất là Hồ Tây, bét nhất cũng rộng một vài ha (cái này đọc là “écta”, tuy vậy có cô phát thanh viên Đài Truyền hình Việt nam vẫn xướng là “ha”, viết sao đọc vậy mà, cứ như sắp cười ha ha vậy!), bé nữa thì không tính, lúc đó chúng tôi gọi là ao.
Trong số 117 hồ nói trên gần 100 hồ đang kêu là sắp chết. Hồ mà cũng sợ chết mới là hay chứ?
Ở Hồ Gươm, hay còn gọi là Hồ Hoàn Kiếm, có cụ Rùa 500 tuổi, cụ này là thần Kim Quy nhận lại thanh gươm từ tay Lê Lợi sau khi Lê Lợi dùng thanh gươm này để đánh thắng giặc ngoại xâm. Chúng tôi rất mong không có một lần nào nữa cụ lại phải trao gươm thần, ý là mong chẳng bao giờ phải đánh giặc ngoại xâm nữa. Sợ nhất là giặc nội xâm, mà giặc nội xâm thì gươm thần vô tác dụng.
Thư đã dài, tôi kể sơ sơ mấy cái nhất của Hà Nội để bạn thấy chúng tôi có nhiều niềm tự hào lắm, song đức khiêm tốn không cho phép chúng tôi nói dài về những cái nhất của mình, mà có nói ra chắc gì bạn đã tin, ví như việc bác sĩ ăn tiền bệnh nhân, học sinh đánh thầy giáo hay nguyên cả cái Bộ giáo dục ra một văn bản có chỗ sai rồi kêu là do lỗi đánh máy…
Không phải vì tôi không đủ tiền thuê đúc một khối bê tông, bỏ bức thư này vào trong đó để đúng 1000 năm sau bạn đập khối bê tông ra xem, mà tôi sợ thợ họ ăn bớt vật liệu, mới vài chục năm khối bê tông đã nát vụn thì phí công.
Tốt nhất là tôi gửi qua Bưu điện Bờ Hồ, theo cung cách làm ăn của họ, chắc cũng phải 1000 năm sau thư mới đến tay người nhận.
Người viết thư
Lão Hâm đã ký”
Bauxite Việt Nam: Thư giãn Chủ nhật: Gửi người một ngàn năm sau
Wednesday, April 7, 2010
HÀNH TRÌNH GIÁC NGỘ CỦA THIỀN SƯ LÂM TẾ
Sau Lục Tổ Huệ Năng, thiền tông Trung Hoa tiếp tục có những vị Tổ sư xuất chúng nối tiếp nhau, lần lượt là Thiền Sư Hoài Hải, kế đến là Thiền sư Bách Trượng, tiếp sau là Thiền sư Hoàng Bích, nối tiếp Hoàng Bích là Tổ sư Lâm Tế. Dòng thiền Lâm Tế Tông là dòng thiền lớn mạnh nhất, ảnh hưởng lớn nhất trong Thiền Tông Trung Hoa, và ảnh hưởng lớn đến cả Thiền Tông Nhật Bản. Do đó biết chút ít về Tổ Lâm Tế cũng là điều cần thiết khi tìm hiểu Thiền Tông.
Tổ Lâm Tế là một người con có hiếu và rất thông minh. Tổ xuất gia từ hồi còn nhỏ. Tổ đã được học rất nhiều kinh, luật và luận. Nhưng về sau, Tổ thấy phong trào học Phật tuy rầm rộ, mà nhiều kẻ tu hành không đàng hoàng, chỉ lo tìm kiếm danh lợi và địa vị, cho nên Tổ chán và quyết định tu thiền để đạt tới sự chứng ngộ. Có lúc Tổ tuyên bố: "Tất cả những gì ta học trong kinh, luật, luận đều vô ích. Làm sao cho mỗi giờ mỗi phút trong đời sống hàng ngày, ta sống được cho thật, đừng đánh mất cuộc đời trong sự tìm kiếm học hỏi". Phần lớn người xuất gia thường đánh mất đời mình trong sự học hỏi, kiếm tìm.
Trong thời gian còn tu học với Thiền sư Hoàng Bích, sự tu tập của Lâm Tế rất thuần nhất. Vị thủ tọa có ý khen rằng tuy thầy (Lâm Tế) thuộc về lớp sau nhưng thầy có nhiều điểm đặc biệt. Thủ tọa hỏi:
- Thầy ở đây lâu chưa?
Lâm Tế đáp:
- Được ba năm.
Thầy thủ tọa:
- Đã từng tham vấn sư tổ (Hoàng Bích) chưa?
Lâm Tế đáp:
- Con chưa từng tham vẫn và cũng không biết tham vấn về đề tài gì.
Thủ tọa bảo:
- Tại sao thầy không thử đến hỏi Hòa thượng "đại ý của Phật pháp là gì?"
Lâm Tế liền đến hỏi tổ Hoàng Bích câu ấy. Hỏi chưa hết câu thì đã bị tổ đánh. Thiền sư trở về. Thủ tọa hỏi: "Sao?"
- Con chưa hỏi xong đã bị tổ đánh, con không hiểu tại sao.
- Vậy cứ tới hỏi lần thứ hai xem sao?
Lâm Tế đến hỏi lần thứ hai. Và lại bị tổ đánh. Như thế cho đến ba lần.
Lâm Tế về hỏi vị thủ tọa:
- Cảm ơn Thủ tọa từ bi đã chỉ bảo cho con tới tham vấn Hòa thượng, nhưng ba lần con hỏi là ba lần con bị đánh. Con tự hận mình vì có nhiều chướng duyên mà không lãnh hội được ý chỉ sâu sắc của Hòa thượng. Nay con xin từ giã đi nơi khác.
Thủ tọa nói:
- Nếu thầy đi thì nên tới từ giã hòa thượng trước khi đi.
Lâm Tế lạy rồi rút lui. Vị thủ tọa tới hòa thượng thưa:
- Cái thầy còn trẻ tới tham vấn ấy có thể là một pháp khí trong tương lai đấy, vậy khi thầy ta lui tới đây từ giã thì xin hòa thượng dùng phương tiện để tiếp độ thầy ấy một chút. Trong tương lai thầy ấy có thể trở nên một cây đại thụ làm bóng mát cho rất nhiều người trong thiên hạ.
Khi Lâm Tế đến từ biệt tổ, tổ nói:
- Con không nên đi đâu cả, chỉ nên đi tới gặp thầy Đại Ngu ở đầu sông Cao An mà thôi. Thầy Đại Ngu sẽ giúp con.
Lâm Tế liền đi tới gặp Đại Ngu. Đại Ngu nói:
- Thầy từ đâu tới?
-Từ tu viện Hoàng Bích tới.
-Hoàng Bích có nói gì không?
- Ba lần tôi hỏi về đại ý của Phật pháp, ba lần tôi bị đánh. Tôi không biết là tôi có lỗi hay không có lỗi.
Đại Ngu nói:
- Hoàng Bích như một bà ngoại từ mẫn đã hết lòng hết sức giúp thầy vượt qua khó khăn, vậy mà thầy lại còn nói có lỗi hay không có lỗi!
Nghe thế, thiền sư Lâm Tế đại ngộ. Thiền sư nói:
- Thì ra là vậy, Phật pháp của hòa thượng Hoàng Bích có gì ghê gớm lắm đâu!
Đại Ngu nói:
- Cái con quỷ đái dầm này, vừa than có lỗi không lỗi đó thì nay lại dám nói Phật pháp của Hoàng Bích không có gì là ghê gớm. Thầy thấy được cái gì, nói nghe xem, nói ta nghe xem!
Thiền sư mới thụi vào hông Đại Ngu ba cái. Đại Ngu đẩy thiền sư ra, nói:
- Thầy của ông là Hoàng Bích, chuyện này chẳng dính líu gì đến ta cả.
Thiền sư liền từ giã Đại Ngu trở về với tổ Hoàng Bích. Thấy thiền sư trở về, tổ Hoàng Bích nói:
- Cái anh chàng này cứ đi đi về về như thế đến bao giờ mới chấm dứt?
Thiền sư nói:
- Chỉ vì hòa thượng quá từ bi nên con phải trở về.
Làm lễ xong, thiền sư đứng hầu một bên. Hoàng Bích hỏi:
- Đi đâu về thế?
- Mới đây theo lời dạy đầy tình thương của hòa thượng, con đã đến tham vấn Đại Ngu. Nay con mới về.
Hoàng Bích hỏi: "Đại Ngu có nói gì không?"
Thiền sư kể lại đầu đuôi câu chuyện. Hoàng Bích nói:
- Cái lão Đại Ngu kia, đợi khi có dịp nắm được lão, ta sẽ đánh cho lão một trận.
Thiền sư liền nói:
- Đâu cần đợi làm gì, hòa thượng? Hãy tiếp nhận ngay bây giờ đi.
Nói xong thiền sư liền thụi vào Hoàng Bích. Hoàng Bích la:
- Cái thằng điên này, dám tới hang cọp vuốt râu hùm hả?
Thiền sư bèn hét. Hoàng Bích nói:
- Thị giả đâu, dẫn thằng khùng này vào trong tăng đường đi!
Đó là hành trình giác ngộ của tổ Lâm Tế. Ngộ rồi thì thầy với trò ngang nhau, thỉnh thoảng hai thầy trò lại thụi nhau mấy quả, chẳng còn là thầy trò nữa mà thành bạn chí cốt. Sau này khi giảng pháp, nhớ lại chuyện mình hỏi tổ Hoàng Bích về đại ý Phật pháp ba lần đều bị đánh, có câu chuyện như sau:
Có vị bước ra hỏi tổ Lâm Tế:
-Đại ý của Phật pháp là gì?
Thiền sư đưa phất trần lên. Vị ấy hét và bị thiền sư đánh cho một cái. Lại có vị xuất gia khác lên hỏi:
- Đại ý của Phật pháp là gì?
Thiền sư cũng đưa phất trần lên. Vị ấy hét. Thiền sư cũng hét. Vị ấy do dự. liền bị thiền sư đánh. Thiền sư mới bảo:
- Này đại chúng, người vì Pháp thì không sợ táng thất thân mạng. Hai mươi năm trước hồi tôi ở với thầy Hoàng Bích, ba lần tôi hỏi về Đại ý Phật pháp là gì thì ba lần tôi được ban cho một gậy, cũng giống như được tiên sư sờ đầu bằng một cành ngải cứu vậy. Đến hôm nay tôi vẫn còn nhớ đến lần được Ngài đánh. Vậy ai có thể lên đây giúp tôi sống lại giây phút ấy?
Lúc bấy giờ có một vị xuất gia rời chỗ ngồi trong đại chúng đi lên, nói:
- Con có thể làm được việc ấy!
Thiền sư cầm cây gậy đưa cho vị kia. Vị ấy ngần ngại khi tiếp nhận cây gậy. Thiền sư liền đánh cho vị ấy một gậy.
Chuyện vui cửa Thiền - Page 7 - Lịch Sử Việt Nam
Tổ Lâm Tế là một người con có hiếu và rất thông minh. Tổ xuất gia từ hồi còn nhỏ. Tổ đã được học rất nhiều kinh, luật và luận. Nhưng về sau, Tổ thấy phong trào học Phật tuy rầm rộ, mà nhiều kẻ tu hành không đàng hoàng, chỉ lo tìm kiếm danh lợi và địa vị, cho nên Tổ chán và quyết định tu thiền để đạt tới sự chứng ngộ. Có lúc Tổ tuyên bố: "Tất cả những gì ta học trong kinh, luật, luận đều vô ích. Làm sao cho mỗi giờ mỗi phút trong đời sống hàng ngày, ta sống được cho thật, đừng đánh mất cuộc đời trong sự tìm kiếm học hỏi". Phần lớn người xuất gia thường đánh mất đời mình trong sự học hỏi, kiếm tìm.
Trong thời gian còn tu học với Thiền sư Hoàng Bích, sự tu tập của Lâm Tế rất thuần nhất. Vị thủ tọa có ý khen rằng tuy thầy (Lâm Tế) thuộc về lớp sau nhưng thầy có nhiều điểm đặc biệt. Thủ tọa hỏi:
- Thầy ở đây lâu chưa?
Lâm Tế đáp:
- Được ba năm.
Thầy thủ tọa:
- Đã từng tham vấn sư tổ (Hoàng Bích) chưa?
Lâm Tế đáp:
- Con chưa từng tham vẫn và cũng không biết tham vấn về đề tài gì.
Thủ tọa bảo:
- Tại sao thầy không thử đến hỏi Hòa thượng "đại ý của Phật pháp là gì?"
Lâm Tế liền đến hỏi tổ Hoàng Bích câu ấy. Hỏi chưa hết câu thì đã bị tổ đánh. Thiền sư trở về. Thủ tọa hỏi: "Sao?"
- Con chưa hỏi xong đã bị tổ đánh, con không hiểu tại sao.
- Vậy cứ tới hỏi lần thứ hai xem sao?
Lâm Tế đến hỏi lần thứ hai. Và lại bị tổ đánh. Như thế cho đến ba lần.
Lâm Tế về hỏi vị thủ tọa:
- Cảm ơn Thủ tọa từ bi đã chỉ bảo cho con tới tham vấn Hòa thượng, nhưng ba lần con hỏi là ba lần con bị đánh. Con tự hận mình vì có nhiều chướng duyên mà không lãnh hội được ý chỉ sâu sắc của Hòa thượng. Nay con xin từ giã đi nơi khác.
Thủ tọa nói:
- Nếu thầy đi thì nên tới từ giã hòa thượng trước khi đi.
Lâm Tế lạy rồi rút lui. Vị thủ tọa tới hòa thượng thưa:
- Cái thầy còn trẻ tới tham vấn ấy có thể là một pháp khí trong tương lai đấy, vậy khi thầy ta lui tới đây từ giã thì xin hòa thượng dùng phương tiện để tiếp độ thầy ấy một chút. Trong tương lai thầy ấy có thể trở nên một cây đại thụ làm bóng mát cho rất nhiều người trong thiên hạ.
Khi Lâm Tế đến từ biệt tổ, tổ nói:
- Con không nên đi đâu cả, chỉ nên đi tới gặp thầy Đại Ngu ở đầu sông Cao An mà thôi. Thầy Đại Ngu sẽ giúp con.
Lâm Tế liền đi tới gặp Đại Ngu. Đại Ngu nói:
- Thầy từ đâu tới?
-Từ tu viện Hoàng Bích tới.
-Hoàng Bích có nói gì không?
- Ba lần tôi hỏi về đại ý của Phật pháp, ba lần tôi bị đánh. Tôi không biết là tôi có lỗi hay không có lỗi.
Đại Ngu nói:
- Hoàng Bích như một bà ngoại từ mẫn đã hết lòng hết sức giúp thầy vượt qua khó khăn, vậy mà thầy lại còn nói có lỗi hay không có lỗi!
Nghe thế, thiền sư Lâm Tế đại ngộ. Thiền sư nói:
- Thì ra là vậy, Phật pháp của hòa thượng Hoàng Bích có gì ghê gớm lắm đâu!
Đại Ngu nói:
- Cái con quỷ đái dầm này, vừa than có lỗi không lỗi đó thì nay lại dám nói Phật pháp của Hoàng Bích không có gì là ghê gớm. Thầy thấy được cái gì, nói nghe xem, nói ta nghe xem!
Thiền sư mới thụi vào hông Đại Ngu ba cái. Đại Ngu đẩy thiền sư ra, nói:
- Thầy của ông là Hoàng Bích, chuyện này chẳng dính líu gì đến ta cả.
Thiền sư liền từ giã Đại Ngu trở về với tổ Hoàng Bích. Thấy thiền sư trở về, tổ Hoàng Bích nói:
- Cái anh chàng này cứ đi đi về về như thế đến bao giờ mới chấm dứt?
Thiền sư nói:
- Chỉ vì hòa thượng quá từ bi nên con phải trở về.
Làm lễ xong, thiền sư đứng hầu một bên. Hoàng Bích hỏi:
- Đi đâu về thế?
- Mới đây theo lời dạy đầy tình thương của hòa thượng, con đã đến tham vấn Đại Ngu. Nay con mới về.
Hoàng Bích hỏi: "Đại Ngu có nói gì không?"
Thiền sư kể lại đầu đuôi câu chuyện. Hoàng Bích nói:
- Cái lão Đại Ngu kia, đợi khi có dịp nắm được lão, ta sẽ đánh cho lão một trận.
Thiền sư liền nói:
- Đâu cần đợi làm gì, hòa thượng? Hãy tiếp nhận ngay bây giờ đi.
Nói xong thiền sư liền thụi vào Hoàng Bích. Hoàng Bích la:
- Cái thằng điên này, dám tới hang cọp vuốt râu hùm hả?
Thiền sư bèn hét. Hoàng Bích nói:
- Thị giả đâu, dẫn thằng khùng này vào trong tăng đường đi!
Đó là hành trình giác ngộ của tổ Lâm Tế. Ngộ rồi thì thầy với trò ngang nhau, thỉnh thoảng hai thầy trò lại thụi nhau mấy quả, chẳng còn là thầy trò nữa mà thành bạn chí cốt. Sau này khi giảng pháp, nhớ lại chuyện mình hỏi tổ Hoàng Bích về đại ý Phật pháp ba lần đều bị đánh, có câu chuyện như sau:
Có vị bước ra hỏi tổ Lâm Tế:
-Đại ý của Phật pháp là gì?
Thiền sư đưa phất trần lên. Vị ấy hét và bị thiền sư đánh cho một cái. Lại có vị xuất gia khác lên hỏi:
- Đại ý của Phật pháp là gì?
Thiền sư cũng đưa phất trần lên. Vị ấy hét. Thiền sư cũng hét. Vị ấy do dự. liền bị thiền sư đánh. Thiền sư mới bảo:
- Này đại chúng, người vì Pháp thì không sợ táng thất thân mạng. Hai mươi năm trước hồi tôi ở với thầy Hoàng Bích, ba lần tôi hỏi về Đại ý Phật pháp là gì thì ba lần tôi được ban cho một gậy, cũng giống như được tiên sư sờ đầu bằng một cành ngải cứu vậy. Đến hôm nay tôi vẫn còn nhớ đến lần được Ngài đánh. Vậy ai có thể lên đây giúp tôi sống lại giây phút ấy?
Lúc bấy giờ có một vị xuất gia rời chỗ ngồi trong đại chúng đi lên, nói:
- Con có thể làm được việc ấy!
Thiền sư cầm cây gậy đưa cho vị kia. Vị ấy ngần ngại khi tiếp nhận cây gậy. Thiền sư liền đánh cho vị ấy một gậy.
Chuyện vui cửa Thiền - Page 7 - Lịch Sử Việt Nam
ĐẠI Ý CỦA PHẬT PHÁP LÀ GÌ?
Một tỳ kheo hỏi thiền sư Bách Trượng:
- Bạch Hòa thượng, Đại ý của Phật pháp là gì?
Vừa dứt lời thì bị thiền sư đạp ngã lăn xuống đất. Tỳ kheo lồm cồm bò dậy, bỗng đại ngộ, vỗ tay cười ha hả.
Về sau, có người hỏi Tuệ Trung Thượng Sĩ rằng, cái đạp ấy có nghĩa gì mà nhà sư kia đại ngộ? Tuệ Trung Thượng Sĩ đáp: "Cú đạp của rồng voi, sức lừa ngựa không sao chịu được".
Nếu chỉ đọc ngần đấy chữ, chắc chắn ta không thể hiểu, ta sẽ thắc mắc rất nhiều. Nhưng đúng như Tuệ Trung Thượng Sĩ nói, đó là cú đạp của rồng voi, trí tuệ lừa ngựa thì không thể hiểu nổi. Bần tăng trí tuệ cũng chẳng đạt đến rồng voi, nhưng cũng xin lạm bàn tí bởi có lẽ nhiều người sẽ rất thắc mắc về câu chuyện trên:
Số là, câu hỏi "Đại ý Phật pháp là gì?" là một câu hỏi thường xuyên được các đệ tử hỏi các Tổ sư, và đã có nhiều người ngộ đạo sau khi được các vị Tổ sư trả lời. Ý nghĩa câu hỏi đó nhiều khi không phải là muốn hỏi về Phật pháp, và các vị tổ sư cũng chẳng bao giờ trả lời huyên thuyên về giáo pháp cả. Thay vào đó là: hét, quát, lấy gậy đánh, gõ vào đầu, thậm chí đạp người hỏi ngã lăn quay như câu chuyện trên. Vì sao các Thiền sư lại làm thế? Các hành động đó có ý nghĩa gì?
Các thiền sư có một pháp gọi là "đối trị căn cơ", tức là tìm rõ nguồn gốc, động cơ, mục đích của người hỏi để phá vỡ động cơ, mục đích đó.
Nếu người hỏi với cái tâm tò mò, băn khoăn thì thiền sư sẽ đối trị sao cho dẹp hết cái tâm tò mò, băn khoăn ấy đi.
Và đặc biệt, có lắm người hỏi chỉ để tỏ ra ta cũng hiểu biết Phật pháp, cũng quan tâm đến Phật pháp, đó là cái tâm tham, tham danh vì muốn được người khác nghĩ rằng à, ông này cũng biết Phật pháp đấy. Với mục đích để hỏi như thế thì dễ bị thiền sư cho ăn một gậy, hay một tiếng hét lắm.
Lại nữa, có người biết rõ câu trả lời, nhưng cứ thích hỏi vì muốn thử xem ông Thiền sư kia có biết rõ Phật pháp không, có nói đúng không. Nếu thiền sư mà trả lời đúng thì họ gật gù, rằng à, ông sư này cũng giỏi đấy. Còn nếu thiền sư trả lời sai thì họ sẽ vui sướng vì ông thiền sư này kém hơn mình. Đó là tâm sân, muốn ăn thua. Với mục đích của người hỏi như vậy, thiền sư sẽ không bao giờ trả lời vào nội dung câu hỏi, tức giảng giải huyên thuyên dài dòng. Mà đơn giản nhất và hay nhất là cho một cái gậy lên đầu người hỏi. Người đó đau điếng quá mà trở lên tỉnh thức, dẹp bỏ được cái tâm sân, muốn chứng tỏ mình giỏi kia. Do đó mà ngộ.
Đến đây chắc mọi người sẽ hiểu câu chuyện cũng tương tự như trên:
Một tỳ kheo hỏi Đức vua-Hòa thượng Trần Nhân Tông:
- Đại ý Phật pháp là gì?
Nhà vua-nhà sư đáp:
- Bánh vẽ.
Một câu hỏi rất hay được hỏi khác là: "Tổ sư Tây lai ý?" -Ý của Tổ sư (Bồ Đề Đạt Ma) từ phía Tây sang đây (Trung Hoa) là sao? Ta thử xem các thiền sư trả lời câu hỏi đó ra sao:
Câu chuyện "đình tiền bách thọ tử":
Viên Ngộ hỏi thiền sư Triệu Châu:
- Tổ sư từ Tây Trúc sang đây là có ý gì?
Thiền sư Triệu Châu đáp:
- Cây tùng trước cổng, nhìn xem. (Đình tiền bách thọ tử)
Viên Ngộ nghe thế thì đại ngộ.
Viên Ngộ đắc đạo, trở thành Tổ sư nối tiếp Triệu Châu, ông soạn ra bộ Bích Nham Lục nổi tiếng, nay là một kinh sách kinh điển của Thiền Tông.
Về sau thiên hạ nghe câu chuyện đó, họ bàn luận mãi, băn khoăn mãi không biết cây tùng của thiền sư Triệu Châu có gì đặc biệt mà khiến Viên Ngộ giác ngộ. Một nhà sư băn khoăn mãi không tìm được lời giải thích thỏa đáng, bèn quyết lặn lội đến hỏi Triệu Châu. Không may cho ông này, khi ông đến nơi thì Triệu Châu đã chết mấy hôm rồi. Ông ta đành hỏi đại đệ tử của Triệu Châu:
- Huynh cho tôi biết với, cây tùng có điều gì đặc biệt khiến cho Viên Ngộ giác ngộ?
Đại đệ tử của Triệu Châu chối bay:
- Cây tùng nào?
- Thì cây tùng mà Tổ sư (triệu Châu) trả lời cho Viên Ngộ ấy, cả nước này đều biết câu chuyện đó mà?
- Thầy tôi trả lời thế bao giờ? Ông đừng có vu oan giá họa cho thầy tôi!
Nhà sư kia thất vọng quá đành quay về.
Bạn thử tìm hiểu xem tại sao đại đệ tử của Triệu Châu lại trả lời phủ định thầy mình như vậy? Không phải vị đệ tử đó không tôn trọng sư phụ mình đâu, trái lại, vị đó rất xứng đáng là đại đệ tử của Triệu Châu, ông đã hành động rất đúng đắn. Lỗi là tại nhà sư kia, cứ nghĩ rằng nguyên nhân giác ngộ của Viên Ngộ nằm ở cây tùng. Thực ra không phải vậy, chính là do Triệu Châu trả lời lạc đề đã chặt đứt được cái tâm tò mò, tìm kiếm của Viên Ngộ, để Viên Ngộ tỉnh giác trở về với thực tại, do dẹp được cái tâm tìm kiếm điều gì đó nên Viên Ngộ giác ngộ. Nhưng mọi người thì cứ bị mắc vào câu trả lời của Triệu Châu, "cây tùng trước cổng", thế nên đâm ra tâm trí họ bị trói vào cây tùng, không nhìn thấy được sự thật. Thiền sư Nhất Hạnh nói, cây tùng trói buộc người ta thế rồi thì ta chặt béng cây tùng ấy đi cho xong, để mà giải thoát cho những người vướng mắc vào nó. Vị đại đệ tử của Triệu Châu trả lời như vậy, đúng là đã "chặt béng cây tùng" như ý của Nhất Hạnh rồi.
Chuyện vui cửa Thiền - Page 6 - Lịch Sử Việt Nam
- Bạch Hòa thượng, Đại ý của Phật pháp là gì?
Vừa dứt lời thì bị thiền sư đạp ngã lăn xuống đất. Tỳ kheo lồm cồm bò dậy, bỗng đại ngộ, vỗ tay cười ha hả.
Về sau, có người hỏi Tuệ Trung Thượng Sĩ rằng, cái đạp ấy có nghĩa gì mà nhà sư kia đại ngộ? Tuệ Trung Thượng Sĩ đáp: "Cú đạp của rồng voi, sức lừa ngựa không sao chịu được".
Nếu chỉ đọc ngần đấy chữ, chắc chắn ta không thể hiểu, ta sẽ thắc mắc rất nhiều. Nhưng đúng như Tuệ Trung Thượng Sĩ nói, đó là cú đạp của rồng voi, trí tuệ lừa ngựa thì không thể hiểu nổi. Bần tăng trí tuệ cũng chẳng đạt đến rồng voi, nhưng cũng xin lạm bàn tí bởi có lẽ nhiều người sẽ rất thắc mắc về câu chuyện trên:
Số là, câu hỏi "Đại ý Phật pháp là gì?" là một câu hỏi thường xuyên được các đệ tử hỏi các Tổ sư, và đã có nhiều người ngộ đạo sau khi được các vị Tổ sư trả lời. Ý nghĩa câu hỏi đó nhiều khi không phải là muốn hỏi về Phật pháp, và các vị tổ sư cũng chẳng bao giờ trả lời huyên thuyên về giáo pháp cả. Thay vào đó là: hét, quát, lấy gậy đánh, gõ vào đầu, thậm chí đạp người hỏi ngã lăn quay như câu chuyện trên. Vì sao các Thiền sư lại làm thế? Các hành động đó có ý nghĩa gì?
Các thiền sư có một pháp gọi là "đối trị căn cơ", tức là tìm rõ nguồn gốc, động cơ, mục đích của người hỏi để phá vỡ động cơ, mục đích đó.
Nếu người hỏi với cái tâm tò mò, băn khoăn thì thiền sư sẽ đối trị sao cho dẹp hết cái tâm tò mò, băn khoăn ấy đi.
Và đặc biệt, có lắm người hỏi chỉ để tỏ ra ta cũng hiểu biết Phật pháp, cũng quan tâm đến Phật pháp, đó là cái tâm tham, tham danh vì muốn được người khác nghĩ rằng à, ông này cũng biết Phật pháp đấy. Với mục đích để hỏi như thế thì dễ bị thiền sư cho ăn một gậy, hay một tiếng hét lắm.
Lại nữa, có người biết rõ câu trả lời, nhưng cứ thích hỏi vì muốn thử xem ông Thiền sư kia có biết rõ Phật pháp không, có nói đúng không. Nếu thiền sư mà trả lời đúng thì họ gật gù, rằng à, ông sư này cũng giỏi đấy. Còn nếu thiền sư trả lời sai thì họ sẽ vui sướng vì ông thiền sư này kém hơn mình. Đó là tâm sân, muốn ăn thua. Với mục đích của người hỏi như vậy, thiền sư sẽ không bao giờ trả lời vào nội dung câu hỏi, tức giảng giải huyên thuyên dài dòng. Mà đơn giản nhất và hay nhất là cho một cái gậy lên đầu người hỏi. Người đó đau điếng quá mà trở lên tỉnh thức, dẹp bỏ được cái tâm sân, muốn chứng tỏ mình giỏi kia. Do đó mà ngộ.
Đến đây chắc mọi người sẽ hiểu câu chuyện cũng tương tự như trên:
Một tỳ kheo hỏi Đức vua-Hòa thượng Trần Nhân Tông:
- Đại ý Phật pháp là gì?
Nhà vua-nhà sư đáp:
- Bánh vẽ.
Một câu hỏi rất hay được hỏi khác là: "Tổ sư Tây lai ý?" -Ý của Tổ sư (Bồ Đề Đạt Ma) từ phía Tây sang đây (Trung Hoa) là sao? Ta thử xem các thiền sư trả lời câu hỏi đó ra sao:
Câu chuyện "đình tiền bách thọ tử":
Viên Ngộ hỏi thiền sư Triệu Châu:
- Tổ sư từ Tây Trúc sang đây là có ý gì?
Thiền sư Triệu Châu đáp:
- Cây tùng trước cổng, nhìn xem. (Đình tiền bách thọ tử)
Viên Ngộ nghe thế thì đại ngộ.
Viên Ngộ đắc đạo, trở thành Tổ sư nối tiếp Triệu Châu, ông soạn ra bộ Bích Nham Lục nổi tiếng, nay là một kinh sách kinh điển của Thiền Tông.
Về sau thiên hạ nghe câu chuyện đó, họ bàn luận mãi, băn khoăn mãi không biết cây tùng của thiền sư Triệu Châu có gì đặc biệt mà khiến Viên Ngộ giác ngộ. Một nhà sư băn khoăn mãi không tìm được lời giải thích thỏa đáng, bèn quyết lặn lội đến hỏi Triệu Châu. Không may cho ông này, khi ông đến nơi thì Triệu Châu đã chết mấy hôm rồi. Ông ta đành hỏi đại đệ tử của Triệu Châu:
- Huynh cho tôi biết với, cây tùng có điều gì đặc biệt khiến cho Viên Ngộ giác ngộ?
Đại đệ tử của Triệu Châu chối bay:
- Cây tùng nào?
- Thì cây tùng mà Tổ sư (triệu Châu) trả lời cho Viên Ngộ ấy, cả nước này đều biết câu chuyện đó mà?
- Thầy tôi trả lời thế bao giờ? Ông đừng có vu oan giá họa cho thầy tôi!
Nhà sư kia thất vọng quá đành quay về.
Bạn thử tìm hiểu xem tại sao đại đệ tử của Triệu Châu lại trả lời phủ định thầy mình như vậy? Không phải vị đệ tử đó không tôn trọng sư phụ mình đâu, trái lại, vị đó rất xứng đáng là đại đệ tử của Triệu Châu, ông đã hành động rất đúng đắn. Lỗi là tại nhà sư kia, cứ nghĩ rằng nguyên nhân giác ngộ của Viên Ngộ nằm ở cây tùng. Thực ra không phải vậy, chính là do Triệu Châu trả lời lạc đề đã chặt đứt được cái tâm tò mò, tìm kiếm của Viên Ngộ, để Viên Ngộ tỉnh giác trở về với thực tại, do dẹp được cái tâm tìm kiếm điều gì đó nên Viên Ngộ giác ngộ. Nhưng mọi người thì cứ bị mắc vào câu trả lời của Triệu Châu, "cây tùng trước cổng", thế nên đâm ra tâm trí họ bị trói vào cây tùng, không nhìn thấy được sự thật. Thiền sư Nhất Hạnh nói, cây tùng trói buộc người ta thế rồi thì ta chặt béng cây tùng ấy đi cho xong, để mà giải thoát cho những người vướng mắc vào nó. Vị đại đệ tử của Triệu Châu trả lời như vậy, đúng là đã "chặt béng cây tùng" như ý của Nhất Hạnh rồi.
Chuyện vui cửa Thiền - Page 6 - Lịch Sử Việt Nam
THIÊN ĐÀNG, ĐỊA NGỤC
Đây là một câu chuyện giản dị hơn, và không có nhiều thứ để suy ngẫm:
Vị Đại tướng quân nghe danh thiền sư (lại quên tên, chỉ nhớ ông là người Trung Hoa) là người thông thái, một hôm đến chơi. Uống trà và đàm đạo một hồi, Đại tướng quân hỏi:
- Hòa thượng, thế nào là thiên đàng, thế nào là địa ngục vậy?
Thiền sư cười mỉa mai:
- Ôi những cái trẻ con cũng biết mà lão già bụng phệ này lại không hiểu. Ai đã đề bạt hạng ngu dốt như ông lên làm tướng quân vậy?
Vị tướng quân tức giận, mặt đỏ hầm hầm đứng dậy tuốt gươm định chém nhà sư. Nhà sư tươi cười nói:
- Này tướng quân, ngài vừa mở cửa xuống Địa ngục đấy!
Tướng quân sững lại, chợt hiểu ra, đút gươm vào vỏ và cúi đầu tạ lỗi. Nhà sư nói tiếp:
- Ngài vừa mở cửa Thiên Đàng đấy.
Tướng quân nghe vậy thì bỗng ngộ, quỳ xuống lạy thiền sư.
Chuyện vui cửa Thiền - Page 5 - Lịch Sử Việt Nam
Vị Đại tướng quân nghe danh thiền sư (lại quên tên, chỉ nhớ ông là người Trung Hoa) là người thông thái, một hôm đến chơi. Uống trà và đàm đạo một hồi, Đại tướng quân hỏi:
- Hòa thượng, thế nào là thiên đàng, thế nào là địa ngục vậy?
Thiền sư cười mỉa mai:
- Ôi những cái trẻ con cũng biết mà lão già bụng phệ này lại không hiểu. Ai đã đề bạt hạng ngu dốt như ông lên làm tướng quân vậy?
Vị tướng quân tức giận, mặt đỏ hầm hầm đứng dậy tuốt gươm định chém nhà sư. Nhà sư tươi cười nói:
- Này tướng quân, ngài vừa mở cửa xuống Địa ngục đấy!
Tướng quân sững lại, chợt hiểu ra, đút gươm vào vỏ và cúi đầu tạ lỗi. Nhà sư nói tiếp:
- Ngài vừa mở cửa Thiên Đàng đấy.
Tướng quân nghe vậy thì bỗng ngộ, quỳ xuống lạy thiền sư.
Chuyện vui cửa Thiền - Page 5 - Lịch Sử Việt Nam
THẾ À!
Hakuin là thiền sư nổi tiếng của Nhật Bản. Ông sống đơn độc trong một cái chòi lá đơn sơ tại một ngọn núi. Vùng đó có cô thiếu nữ xinh đẹp, con một gia đình gia giáo. Bỗng dưng một hôm mọi người khám phá ra cô có bầu. Cha mẹ cô giận lắm, truy xét cô xem ai là cha đứa bé. Không chịu được, cô khai rằng đó là thiền sư Hakuin.
Dân làng bất ngờ và giận dữ lắm, cùng cha mẹ cô gái kéo cô lên chòi lá của thiền sư, gọi thiền sư ra:
- Đồ sư hổ mang, mang tiếng đạo hạnh mà đi dụ dỗ con gái nhà người ta, đồ tà dâm...
Hakuin ngạc nhiên lắm, nhưng chỉ nói một câu:
- Thế à!
Họ xỉa xói ông một hồi rồi kéo về. Mấy tháng sau cô gái sinh một đứa bé đầu trọc lốc, cha mẹ cô bế đứa bé đến vứt trả cho thiền sư. Danh dự của Hakuin mất hết. Thế nhưng ông không oán giận ai, hàng ngày bế đứa trẻ đi vào làng xin sữa, chăm nom đứa bé cẩn thận.
Một năm sau, cô gái không thể chịu được nữa, đành khai thật với bố mẹ rằng cha của đứa bé là một thanh niên trong làng, cô xin được cưới anh ta và đón đứa bé về. Cha mẹ cô và dân làng ngỡ ngàng, đến chòi lá xin đứa bé về và xin thiền sư bỏ qua. Khi họ đến trình bày rõ câu chuyện, thiền sư Hakuin cũng chỉ thốt lên hai tiếng: "Thế à!"
Chuyện vui cửa Thiền - Page 4 - Lịch Sử Việt Nam
Dân làng bất ngờ và giận dữ lắm, cùng cha mẹ cô gái kéo cô lên chòi lá của thiền sư, gọi thiền sư ra:
- Đồ sư hổ mang, mang tiếng đạo hạnh mà đi dụ dỗ con gái nhà người ta, đồ tà dâm...
Hakuin ngạc nhiên lắm, nhưng chỉ nói một câu:
- Thế à!
Họ xỉa xói ông một hồi rồi kéo về. Mấy tháng sau cô gái sinh một đứa bé đầu trọc lốc, cha mẹ cô bế đứa bé đến vứt trả cho thiền sư. Danh dự của Hakuin mất hết. Thế nhưng ông không oán giận ai, hàng ngày bế đứa trẻ đi vào làng xin sữa, chăm nom đứa bé cẩn thận.
Một năm sau, cô gái không thể chịu được nữa, đành khai thật với bố mẹ rằng cha của đứa bé là một thanh niên trong làng, cô xin được cưới anh ta và đón đứa bé về. Cha mẹ cô và dân làng ngỡ ngàng, đến chòi lá xin đứa bé về và xin thiền sư bỏ qua. Khi họ đến trình bày rõ câu chuyện, thiền sư Hakuin cũng chỉ thốt lên hai tiếng: "Thế à!"
Chuyện vui cửa Thiền - Page 4 - Lịch Sử Việt Nam
Chuyện người kiếm sĩ
Nguồn: http://lichsuvn.info/forum/showthread.php?t=9458&page=3
Phần I. Bá kiếm tiểu hổ
Vùng nọ có truyền thống kiếm thuật, trẻ em 5 tuổi đã cầm kiếm gỗ, 10 tuổi biết múa kiếm sắt, số người kiếm sĩ giỏi của vùng đó nổi danh trên giang hồ không biết bao nhiêu mà kể. Đi ra đường trăm bước gặp một người đeo kiếm, đi hai trăm bước thấy người múa kiếm, bước chân vào nhà nào cũng thấy kiếm treo trên vách. Thiên hạ thật không có nơi nào chuộng kiếm thuật, giỏi kiếm thuật như nơi này.
Vùng đó có một ngọn núi cao, chả ai đặt chân đến vì đường núi hiểm trở. Nhưng dân gian đồn rằng trên đó có một nhà sư đã ẩn tu 50 năm, kiếm thuật của nhà sư ấy vô địch thiên hạ, nhưng ít người có diễm phúc được nhà sư nhận làm đồ đệ. Mà cũng ít người dám đến ngọn núi cô quạnh vắng vẻ đó. Nhìn lên chỉ thấy vách đá dựng nhọn hoắt, mây lượn quanh quyện vào những cây thông già, không một dấu vết nào của con người.
Có chàng thanh niên họ Vương, vốn gia đình dòng dõi kiếm thuật nổi tiếng trong vùng, hễ nhắc đến họ Vương là người người đều kính phục. Chàng họ Vương ấy được dạy dỗ kỹ càng chu đáo từ nhỏ, nên mới hai mươi tuổi đã tài năng xuất chúng, lại đi giao đấu với tất cả các cao thủ trong vùng, chàng chưa một lần thất bại, tiếng tăm lừng lẫy được thiên hạ gọi là Kiếm Bá Tiểu Hổ. Ra đường ai gặp chàng cũng phải cúi chào cung kính, tự tránh sang một bên nhường đường cho chàng thẳng bước. Chàng lấy vậy làm kiêu hãnh, tự hào lắm.
Có một kẻ nông phu không may, cắm cúi kéo xe bất ngờ đâm đầu phải vào chàng. Mọi người xung quanh chỉ kịp thấy một vết sáng loang loáng, rồi người nông phu ấy từ từ đổ gục xuống, máu mới bắt đầu chảy ra, Kiếm Bá ra tay nhanh đến nỗi kiếm của chàng không kịp dính máu. Thiên hạ không ai là không kinh sợ, từ đấy mọi người đều không dám lại gần chàng nữa, chỉ dám vái chào chàng và vội vàng tránh một bên.
Một hôm, Kiếm Bá đi lang thang ngoài đường cái. Ngược chiều Kiếm Bá cũng có một người đội nón lá sụp xuống che hết mắt, tay cầm kiếm đi về phía chàng. Mọi người xung quanh đều đã tránh sang hai bên nhường đường cho chàng đi, nhưng kẻ kia vẫn tiến đến như chẳng có chuyện gì. Kiếm Bá nổi giận, quát nạt:
- Đồ không có mắt, ta là Vương Tiểu Hổ, Kiếm Bá đi giữa ban ngày mà ngươi dám cản đường ta?
Kẻ kia đáp lại:
- Tên vô danh tiểu tốt dám quát ta ư? Tránh ra một bên ngay, trước khi ta nổi giận! Hễ ta nổi giận lên thì ngươi chỉ còn là con ma không đầu!
Kẻ kia vẫn chẳng thèm tránh, còn đứng lại ngẩng mặt lên nhìn Kiếm Bá như thách thức. Kiếm Bá hơi giật mình, xưa nay chỉ có người ta lui trước mặt chàng chứ không có ai dám đứng ngang tàng như vậy. Nhưng giống như bị xúc phạm trước mặt thiên hạ, chẳng quát nữa, chàng rút kiếm lao thẳng vào kẻ thách thức. Kẻ kia chẳng vừa, né một cái, rồi rút kiếm ra đỡ. Hai người đánh nhau hơn trăm hiệp không phân thắng bại, nhưng đã lâu không được đấu với cao thủ nên đường kiếm của Kiếm Bá chợt để lộ chỗ lỏng lẻo. Thế là đủ, kẻ kia chém mạnh một nhát, kiếm của Kiếm Bá bay ra xa mười thước. Chưa kịp hoàn hồn, mũi kiếm của kẻ kia đã chĩa vào cổ họng chàng. Hắn quát:
- Đồ vô danh tiểu tốt, dám vô lễ với ta. Lẽ ra ta phải giết ngươi, nhưng thấy ngươi còn trẻ, ta tha cho lần này. Nói cho ngươi biết, ngoài bậc đại sư trên núi, thiên hạ này không ai địch nổi ta!
Hắn đút kiếm rồi quay đi, để lại chàng Vương vẫn còn đứng thẫn thờ. Thiên hạ xì xào. Khi chàng ngẩng lên nhìn họ, họ lại im lặng, cúi mặt mà tản đi chỗ khác. Chàng cảm thấy một nỗi nhục không thể nào chịu nổi. Ta thề sẽ phải giết chết kẻ dám làm nhục ta hôm nay. Nhưng khốn nỗi, lần đầu tiên ta gặp một cao thủ như hắn, kiếm thuật của hắn hơn hẳn ta mấy bậc. À mà hắn có nói chỉ có nhà sư trên núi là địch nổi hắn, vậy nhà sư ấy không phải là huyền thoại. Ta phải lên đó xin ngài dạy dỗ, quyết học được kiếm pháp về trả cái mối thù này!
Phần II: Bái sư học đạo.
Kể từ sau lần bị tên kiếm sĩ lạ mặt đánh bại, chàng Vương suốt ngày buồn bực, chẳng bước chân ra ngoài vì cảm thấy nhục trước thiên hạ. Ở ngoài kia thiên hạ cũng xì xào, cái chuyện Vương Tiểu Hổ bị đánh bại và suýt chết bởi người kiếm sĩ lạ mặt cứ được bàn tán xôn xao mấy ngày. Vương sốt ruột càng thêm quyết tâm báo thù. Sáng dậy luyện kiếm, chiều luyện chặt chém, nửa đêm có lúc bật mình trở dậy lấy kiếm ra múa. Nhưng bên tai chàng vẫn văng vẳng câu nói của gã kiếm sĩ: Trên đời này chỉ có nhà sư trên núi là địch được hắn thôi. Đường kiếm của gã quá nhanh và kín đáo, lại mạnh mẽ và khôn ngoan. Dân gian lại đồn nhau rằng hắn chính là một đồ đệ của nhà sư, đã xuống núi, thường lang thang đây đó. Vương tự cảm thấy mình cứ luyện mãi thế này thì vẫn không thể bằng gã, trong bụng càng muốn lên núi bái nhà sư làm thầy. Ngặt một nỗi, đã 50 năm người ta không thấy mặt nhà sư, cũng nghe rằng ngài rất khó tính trong việc nhận học trò, đường lên núi cũng rậm rạp hiểm trở mà ngọn núi thì to, không biết nhà sư ở chỗ nào. Cuối cùng thì chàng Vương cũng quyết phải lên đó một chuyến. Nếu nhà sư không nhận chàng làm đệ tử, chàng sẽ nói khích và thách đấu để xem nhà sư có miếng gì độc đáo, sẽ học lỏm. Chàng từ biệt mẹ, nói:
- Mẹ thứ lỗi cho con, xưa nay con vô địch, cao thủ vùng này đều phải bái phục con. Kể từ hôm bị một kẻ vô danh kia làm nhục, con chưa được sống một ngày nào yên. Chỉ có giết hắn trả thù được thì con mới dám ra ngoài đường. Con muốn lên núi bái vị ẩn sư làm thầy, để học kiếm đến khi nào thắng được hắn mới về. Xin mẹ ở nhà bảo trọng, đứa con bất hiếu này đi xa nhưng nhất định chỉ 5 năm sẽ trở về.
Người mẹ nói:
- Xưa nay nhà ta danh tiếng nức vùng, nhắc đến tên thì ai cũng kính nể. Trận thua của con cũng như là nỗi nhục của cả nhà ta, mẹ không giữ con đi tìm thầy. Hãy gắng luyện tập cho giỏi, khi trở về còn giữ gìn danh tiếng tổ tông. Thân mẹ vẫn còn khỏe, con không nên lo lắng.
Nói rồi hai người đi thu xếp tay nải. Vương mang theo một thanh bảo kiếm gia truyền, có một không hai trong vùng này, và một thanh bảo kiếm khác để làm lễ dâng kiếm bái sư, đó là theo truyền thống của vùng, muốn nhận ai đó làm thầy thì phải dâng cho thầy một thanh bảo kiếm, những vị thầy đều là các cao thủ không bao giờ động tay đến kiếm thường. Ngày chàng lên đường, chợt thấy có tên kiếm sĩ đội nón là ngày nào đang đi ngược về phía mình. Vương cúi mặt tránh sang một bên, nhưng trong lòng thầm nhủ: Nhất định ta sẽ giết mày! Không phải lo chuyện gia đình nên chàng một lòng đi thẳng đến ngọn núi. Quả là nơi ít người đến, um tùm rậm rạp, tiếng hổ gầm gió đưa tới tai chàng đã mấy bận. Nhìn lên ngọn núi, chỉ thấy:
Sức chàng Vương khỏe, cứ leo núi băng băng, chỗ nào gặp đá thì trèo qua đá, gặp cây cối rậm rạp thì lấy kiếm phát quang. Chàng leo núi đã hai ngày. Ngọn núi này lớn, không biết nhà sư ấy ở chỗ nào. Bất giác chàng thấy một khe suối nhỏ. Phải rồi, nhà sư không thể sống không cần nước, ta cứ đi theo con suối này ắt tìm ra dấu vết gì. Chàng đi dọc theo con suối, quả nhiên thấy một lối đi giữa đám cỏ cây, ắt là nhà sư theo đường này ra suối lấy nước. Chàng đi theo con đường đó, thật là lạ, trên núi vách dựng nhọn hoắt này mà cũng có một khoảng rộng rãi bằng phẳng, gần đó lại thấy khói bốc lên, đúng là nơi nhà sư ở rồi. Chỗ này quả thật là cao, nhìn xuống còn thấy mấy tầng mây, thảo nào hàng ngày nhà sư nấu bếp người ở dưới cũng không thể thấy khói nên không ai biết nhà sư ở chỗ nào. Chưa thấy người, nhưng lòng chàng Vương vui mừng rộn rã, tháo thanh bảo kiếm ra, hướng về chỗ có khói mà bước tới. Rồi cái gì cần thấy cũng đã thấy, một sư cụ già đang nấu ít rau rừng. Vương chợt khựng lại: lẽ nào ông cụ chậm chạp già nua kia là cao thủ? Chàng không đảnh lễ vội, hỏi cho chắc chắn:
- Cụ già cho hỏi, nhà sư giỏi kiếm thuật ở chỗ nào trên núi này?
Sư cụ ngước mắt lên, thấy một chàng trai khôi ngô vạm vỡ thì mỉm cười hiền từ:
- Cậu lầm rồi, trên này đâu có ai biết đánh kiếm đâu?
Vương hơi giật mình. Chàng đã bỏ sức và quyết tâm, đến đây rồi lại về không ư? Chàng cũng không tin hẳn lời sư cụ kia nói, lại hỏi thêm:
- Vậy cụ cho hỏi, trên núi này còn có ai nữa không?
Sư cụ lắc đầu:
- Nơi thâm sơn cùng cốc này, ngoài bần tăng ra không có ai sống cả.
Chàng Vương hơi nản! Hay là nhà sư huyền thoại kia đã chết, hoặc đã đi đâu rồi. Đã 50 năm người ta không còn thấy ngài nữa, liệu nhà sư ấy còn có ở đây không? Chàng lấy làm buồn bực cho cái sự vô duyên của mình, đã mất công lên đây mà chẳng gặp được bậc chân sư, thù kia biết khi nào trả được? Bất giác chàng rơi nước mắt. Sư cụ thấy vậy bèn hỏi chuyện:
- Cậu có việc gì mà lại lên tìm nhà sư ấy, lại mang theo kiếm nữa?
Vương than thở:
- Chẳng giấu cụ, tôi đã quyết tâm lên đây vì nghe danh tiếng một nhà sư ở ẩn đã 50 năm, kiếm thuật vô địch thiên hạ, muốn bái Ngài làm thầy. Giờ ở đây không có Ngài ấy, tôi làm sao không buồn, biết tìm ngài ấy ở đâu?
Sư cụ ngơ ngác hỏi:
- Ở dưới đó người ta nói gì về ông sư ấy vậy?
- Họ nói rằng có một nhà sư từng vô địch kiếm thuật trong thiên hạ, rồi không biết vì sao lại lên đây ở ẩn đã 50 năm, không thấy nhận ai làm đệ tử để truyền kiếm thuật. Thế mà hôm nọ tôi có gặp một kẻ đánh kiếm rất tài, người ta đồn rằng đó là học trò của nhà sư ấy, nên tôi cũng muốn bái nhà sư ấy làm thầy.
- Lẽ nào họ nói về bần tăng? Bần tăng cũng ở đây 50 năm rồi.
Vương sung sướng quá, vội quỳ xuống:
- Đích thị là thầy rồi. Xin hãy nhận con làm đồ đệ.
Nói rồi hai tây dâng thanh bảo kiếm lên. Nhà sư gạt đi, nói:
- Đã 50 năm nay ta gác kiếm rồi, còn gì đâu mà dạy? Cậu hãy tìm thầy khác đi.
Vương quyết không lui:
- Con đã mất bao công sức đến đây, xin thầy hãy nhận con làm đệ tử. Thầy đã từng nhận đệ tử rồi, sao lại từ chối con?
Nhà sư đáp:
- Đã 50 năm nay ta bỏ kiếm, nay lại thêm tuổi già sức yếu, làm sao ta dạy cậu được. Hãy đi tìm nơi khác đi.
Vương quyết không bỏ. Nhà sư cũng không nhận. Hai người cứ nói qua nói lại mãi. Nhà sư quát lên:
- Đồ ương bướng, học ta thì có ích gì. Cơm của ta chín rồi, ta đi ăn cơm, không nói chuyện với người nữa.
Nói rồi quay đi. Vương túm tay nhà sư lại, tay kia rút kiếm ra, nói:
- Nếu thầy không nhận con làm đệ tử thì hãy xem đường kiếm này đây.
Nói rồi vung kiếm chém xuống đầu nhà sư. Nhà sư né kịp, cuống cuồng nói:
- Từ từ đã, có gì đợi ta ăn cơm xong rồi nói chuyện tiếp.
Vương cười ha hả. Cuối cùng thì nhà sư cũng đã ra chiêu. Người bình thường làm sao né kịp đường kiếm này của ta. Lão muốn giấu nghề ta cũng phải moi ra bằng được.
Nhà sư đi ăn cơm, thực ra toàn là rau rừng, chàng Vương cũng lấy lương khô ra ăn. Ăn xong, nhà sư lăn quay ra ngủ ngay trên một phiến đá một mạch đến gần tối, làm Vương bực bội sốt ruột lắm, nhưng dẫu sao Vương cũng cần nhà sư chỉ bảo, nếu không chắc chàng cũng chẳng chịu để lão sư đó yên. Nhà sư thức dậy, vươn vai uể oải nói:
- Úi chà, đã sắp tối rồi cơ à. Đợi đấy nhé, ta phải đi kiếm ít rau rừng làm bữa tối đã.
Nói rồi nhổm dậy đi ngay, chàng Vương chẳng kịp nói câu nào. Chàng tức ngầm trong bụng. Tối hôm đó, ngay khi lão sư ăn cơm xong, chàng quỳ xuống dâng gươm ngay:
- Thầy đã nói sẽ trả lời con từ buổi trưa rồi, bây giờ xin thầy nhận con làm đệ tử.
Nhà sư già gật đầu:
- Được, được! Nhưng bây giờ muộn rồi, hãy cất kiếm đi ngủ đi đã.
Chàng Vương hỏi ngủ ở đâu. Nhà sư đáp:
- Ngươi thấy quanh đây có chỗ nào ngủ được thì ngủ. Nói rồi nhà sư lại chui vào căn lều lá nhỏ xíu của ông. Vương nhìn quanh chẳng có chỗ nào sạch sẽ, kín đáo cả. Chàng cứ lanh quanh mà chẳng biết làm sao. Đêm trên núi cao lắm sương, khí lạnh toát người, Vương đành đốt một đống lửa để sưởi. Mỏi quá lại nằm ra đất ngay cạnh đống lửa, song khí ẩm làm chàng không thể nào ngủ được. Chàng nghĩ bụng: Ta ở đây còn dài, chẳng lẽ đêm nào cũng ngủ thế này. Ngày mai sẽ kiếm ít cây lá làm một cái lán nhỏ vậy. Chàng cứ trằn trọc mãi đến tận sáng.
Nhà sư cũng chẳng dậy sớm. Mặt trời đã lên cao bằng con sào rồi, ông mới ra ngoài lều, thấy chàng Vương đang ngồi ngủ gà ngủ gật bên đống lửa đã tàn. Ông đánh thức chàng dậy.
- Dậy ngay, đi lấy nước với ta. Muộn đến thế này rồi mà vẫn còn ngủ, làm sao học ta được.
Vương nghe vậy vội vàng tỉnh lại ngay, đứng dậy rũ quần áo còn đẫm sương, nói:
- Xin sư phụ chỉ dạy, con đã sẵn sàng nghe.
- Đi lấy nước với ta!
Nói rồi đưa cho chàng Vương một cái bát sành, nhà sư cầm một cái bát sành nữa, hai người ra suối múc đầy bát nước về đổ vào một cái vại sành. Bát thì bé vại thì to, hai người phải đi gần mười chuyến mới lấy đầy nước vào vại. Đường ra suối thì không dài, nhưng là đường núi dốc, trên cao khí lại loãng, đi đến lần thứ bảy thì Vương đã mệt phờ. Hôm trước chàng cứ leo một mạch lên núi, chỉ nghĩ đến tìm thầy để học nên không biết mệt, qua một đêm khó ngủ lại không quen vận động lâu trong không khí loãng của núi cao, nên đi đến chuyến cuối cùng thì chàng ngồi bệt xuống giữa đường mà thở hổn hển. Ấy vậy mà nhà sư già vẫn đi nhẹ nhàng như bình thường, không thở dốc gì cả. Nhà sư quát lên:
- Mang có cái bát con đi lấy nước mà cũng không nổi, vậy học ta làm sao đây!
Vương lại phải đứng dậy. Trong bụng nghĩ, quái lạ, ông già này trông già cả chậm chạp thế mà dai sức hơn cả ta. Vương nhớ lại hôm đấu với gã kiếm sĩ lạ, đánh hơn trăm hiệp thì Vương lỏng tay để hắn đánh bay kiếm ra ngoài. Gã kia là học trò của ông già này, đã luyện tập ở đây, thảo nào sức hắn cũng bền bỉ và mạnh mẽ đến thế. Không sao, ta sẽ luyện tập chăm chỉ, rồi sức ta cũng mạnh như vậy thôi.
Lấy nước xong nhà sư lại giục theo ông đi hái rau rừng. Vương thì chả biết loại rau nào, nên cố gắng thấy thầy nhặt loại nào thì để ý kỹ. Chàng biết trên này chẳng có lúa gạo gì, rau rừng là chính mà thôi. Hái đủ rau thì cũng đã muộn, hai thầy trò lại về nấu rau ăn trưa. Ăn xong nhà sư lại lăn ra ngủ. Vương cũng chẳng sốt ruột như hôm trước nữa, phần vì chàng đang mệt, phần vì cũng nghĩ phải tranh thủ làm cái lều lá mà ngủ ban đêm. Nghĩ vậy nên trong lúc nhà sư ngủ, chàng lấy kiếm phạt lấy ít cành cây, chọn một chỗ nhiều nắng phơi ít cỏ lá, rồi gác cành cây, lợp lá làm cái lều nhỏ chỉ vừa cho một người. Xong thì cũng gần tối, nhà sư mới dậy, lại giục đi hái rau rừng. Hôm đó chưa học gì cả, Vương cũng không thắc mắc vì thấy mình cũng mệt mỏi, ăn cơm xong là chui vào lều nằm ngay. Cành cây và cỏ lá phơi một buổi chưa khô, mùi nhựa ngai ngái khó chịu, nhưng Vương tặc lưỡi nhủ rằng thôi cố mà ngủ. Ngày thứ hai trên núi đã trôi qua.
Mười ngày sau đó đều như vậy, sáng đi lấy nước rồi hái rau rừng, chiều đợi nhà sư ngủ dậy lại đi hái rau rừng, nhà sư không đả động gì đến chuyện dạy học. Nhưng Vương cảm thấy sức mình cũng đã khá hơn, không còn mệt như những hôm đầu nữa, tự hỏi có lẽ lúc nào mình đủ sức khỏe thầy mới dạy cho chăng?
Trên núi thiếu thốn khắc nghiệt, ăn rau suông đã mười ngày, tuy Vương vẫn đủ sức đi hái rau và lấy nước nhưng cảm thấy khó chịu. Chàng vốn sức thanh niên lại con nhà võ, ăn mấy cũng không no, mà phải ăn toàn thứ thịt cá đàng hoàng, trên này chỉ có rau là rau. Chàng thèm một miếng thịt lắm. Cũng may là ở một khe đá có một dòng nước nhỏ xíu chảy nhỏ giọt, thứ nước ấy có vị hơi mặn để nấu lẫn rau, chứ chỉ ăn rau nhạt 10 ngày thì không ai chịu nổi. Mới mười ngày mà Vương đã gầy đi thấy rõ, da cũng xanh hẳn đi. Hôm đó Vương nói với nhà sư:
- Nay sức con đã khá, xin thầy mau chóng dạy dỗ!
Nhà sư gạt đi:
- Ngươi không chịu được khổ, muốn học qua quít để xuống núi sớm chứ gì? Ta không dạy cho ai thiếu kiên nhẫn đâu.
Vương không hỏi nữa. Ba tháng liền trôi qua vô sự, chàng Vương cũng đã quen, không còn thấy khó chịu với ăn rau suông và ngủ sương lạnh nữa.
Chàng Vương đã quen với cuộc sống trên núi, không còn thèm ăn thịt ngủ chăn đệm nữa. Nhưng chàng hậm hực suốt, từ khi chàng lên đây đã hơn 3 tháng mà nhà sư tiệt không nói gì đến chuyện học, không dạy cho chàng mảy may. Lúc đầu chàng còn nghĩ rằng nhà sư muốn rèn cho mình sức khỏe và chịu đựng gian khổ rồi mới dạy dỗ nên không thắc mắc mấy, nay chàng tự thấy mình đã đủ sức, ngày ngày vác vại chạy ra suối hứng nước lại vác về như không, trèo lên tận đỉnh núi tìm rau lạ rồi trèo xuống chẳng thở dốc, đêm lạnh sương gió vẫn ngủ ngon lành. Chàng thấy đã đến lúc nhà sư có thể dạy dỗ được rồi. Hôm đó ăn trưa xong, không để nhà sư kịp đi ngủ, chàng đã cầm sẵn hai thanh bảo kiếm, quỳ xuống dâng lên:
- Nay con thấy mình đã đủ sức, xin thầy nhận kiếm và dạy dỗ cho con.
Nhà sư lắc đầu:
- Không được, ta vẫn chưa nhận ngươi làm học trò được. Ngươi vẫn đang phải thử thách, nếu ngươi qua hết được thử thách thì ta mới dạy cho.
- Xin thầy cho biết con còn phải thử thách trong bao lâu nữa?
Nhà sư xòe bàn tay phải và giơ ngón tay trỏ của bàn tay trái lên. Vương thốt lên:
- Những sáu tháng cơ à!
Nhà sư lắc đầu:
- Không, sáu năm đó chứ!
Vương ngã ngửa ra. Sáu năm liền thử thách ư? Mà còn thử thách ta cái gì nữa? Ta chỉ muốn học ngay thôi. Vương hỏi tiếp:
- Con còn phải thử thách gì nữa?
- Sao ngươi vội vàng thế. Sự học chân chính đâu có thể nóng vội. Hay là ngươi có mục đích gì? Hãy nói cho ta ngay.
Vương kể lại câu chuyện đã khiến chàng cất công lên đây học tập. Kể xong chàng nói mạnh mẽ:
- Khi lên đây con đã thề rằng phải học vượt qua được hắn để trở về rửa nhục. Mà đã vượt qua được hắn thì con cũng là thiên hạ đệ nhất kiếm rồi.
Nhà sư cười:
- Ngươi không tính đến ta sao?
- Sư phụ tuy là bậc đệ nhất, nhưng thầy đã quy ẩn giang hồ 50 năm rồi, chắc cũng chẳng muốn tranh giành với ai.
Nhà sư nghiêm khắc nói:
- Vậy ra mục đích của ngươi là vậy. Ta không thể nhận ngươi làm học trò được.
Vương cãi:
- Tại sao lại không dạy cho con? Có phải thầy sợ con giỏi hơn thầy không? Nếu vậy thì thầy lên đây ở ẩn để làm gì!
- Ngươi sai rồi. Kẻ kia đánh bại ngươi, nhưng nếu ta dạy dỗ ngươi thì ngươi và hắn sẽ là huynh đệ đồng môn, lẽ nào ngươi giết đồng môn? lẽ nào ta là sư phụ mà lại để đồ đệ giết hại nhau thì còn đâu đạo lý! Nếu ngươi muốn trả thù hắn thì hãy đi tìm thầy khác, ta không thể dạy ngươi!
Vương giật mình. Nhà sư nói có lý khiến chàng thẫn thờ. Nhà sư để mặc chàng đó, leo lên phiến đá nằm ngủ. Chàng suy nghĩ.
- Phải rồi, thế thì ta với hắn lại là đồng môn, làm sao ta trả thù hắn mà lại không mang tiếng với thiên hạ được! Mà suy cho kỹ, cũng nhờ hắn mà ta mới tìm đến đây. Cái nhục trước đám thiên hạ kia là chuyện nhỏ, đã đến đây rồi phải làm sao học được tuyệt kỹ mới là chuyện quan trọng.
Nghĩ vậy, sự oán giận người kiếm sĩ kia đã vơi đi một nửa, chàng lay nhà sư dậy nói:
- Thưa thầy, con đã thấy là con sai. Cũng nhờ có hắn mà con mới đến đây, dù sao con và hắn cũng đã là đồng môn. Con sẽ không oán giận hắn nữa. Xin thầy nhận con làm đệ tử!
Nhà sư đáp:
- Lúc này nhất thời ngươi nghĩ ra được thế, nhưng ta sợ khi xuống núi ngươi nghe thiên hạ xì xào chuyện ngày xưa, lòng oán thù của ngươi lại trỗi dậy. Được, ta sẽ nhận ngươi làm đệ tử, nhưng thời gian thử thách của ngươi sẽ là 8 năm!
- Thưa thầy, tại sao lại phải thử thách dài như vậy? Chẳng lẽ phải đợi khi con có sức lật quả núi này thầy mới dạy hay sao?
- Thử sức là chuyện nhỏ, ta thấy ngươi mới 3 tháng mà sức đã khá rồi. Nhưng thử tâm mới là chuyện lớn. Kiếm thuật của ta là tuyệt đỉnh thiên hạ, nếu dạy cho kẻ ác tâm thì sẽ đại họa cho bách tính. Do đó mà ta phải thử thách tâm của ngươi. Đừng nói 6 năm là lâu, 60 năm mà ngươi chưa hết tà tâm thì ta cũng không dạy đâu.
- Vậy là nếu con không còn tâm ác nữa thì thầy sẽ dạy, thế nếu chỉ 3 năm mà con không còn ác nữa thì có cần thử thách con 5 năm nữa không?
Vị thầy gật đầu:
- khi nào tâm ngươi thuần thì ta sẽ dạy cho.
- Thưa thầy, tên học trò trước kia của thầy chắc cũng đã được thử thách tâm, thế sao khi giáp mặt với con hắn có vẻ ác vậy?
Nhà sư phá lên cười:
- Thật ra ta chưa từng dạy hắn tuyệt chiêu nào, ta biết hắn không tịnh tâm. Nhưng hắn cũng không phải là kẻ ác, ngươi nghĩ xem, hôm đó ngươi đã xúc phạm hắn trước, nếu hắn nổi giận lên thì ngươi đã thành ma không đầu rồi.
- Con không hiểu, thế thầy có dạy cho hắn gì không mà hắn nói rằng chỉ có thầy là địch được hắn?
- Chuyện là thế này. Ta mới chỉ dạy cho hai người, một người đến đây 30 năm trước, một người đến đây 10 năm trước, ngươi đã đấu với người thứ 2 đó.
Vương thưa:
- Con không hiểu, lúc nãy sư phụ bảo thầy chưa từng dạy cho hắn tuyệt chiêu nào, mà thầy lại vừa bảo thầy đã dạy hắn 10 năm trước?
Nhà sư nói:
- Ngươi hãy bớt hỏi đã để ta kể cho nghe.
Cách đây 30 năm có một người bị rắn cắn dưới chân núi, hôm đó ta cảm thấy có chuyện không hay xảy ra dưới đó nên đã xuống núi, do vậy cứu được hắn. Mấy ngày sau hắn khỏe lại, hắn muốn theo ta lên núi để chăm sóc ta hòng báo đáp ơn cứu sống. Ta không cần hắn trả ơn, nhưng hắn cứ theo ta lên đây. Ta thấy hắn là người sức yếu, không có tố chất nhưng thấy hắn là người thật thà trung nghĩa, nên cũng dạy dỗ hắn một vài thứ cho hắn tăng sức khỏe, dần dà hắn trở nên thành thục, nắm được hết đạo lý của ta, ta không còn gì mà truyền lại cho hắn nữa. Ta khuyên hắn không nên ở mãi trên này, hãy xuống kia mà giúp đỡ thiên hạ.
Mười năm trước, có một tên kiếm sĩ cũng tới đây tìm ta, cũng như ngươi, hắn muốn báo thù. Cả nhà hắn bị bọn tham quan hãm hại một cách thảm khốc, may hắn trốn thoát được nhưng bị lũ tay sai giang hồ lùng sục khắp nơi. Hắn lên đây muốn ta dạy kiếm thuật để trở về trả thù những kẻ hãm hại gia đình hắn. Ta từ chối không dạy, nhưng hắn rất quyết tâm, dù ta không dạy gì nhưng hắn vẫn ngày ngày luyện tập một mình mấy năm ròng. Ta thấy hắn cũng đáng thương nên dạy hắn vài thứ để hắn tự bảo vệ mình khỏi lũ giang hồ muốn truy sát hắn, còn các tuyệt kỹ thì tuyệt đối không dạy. Hắn xuống núi 5 năm trước, nhưng ta tin hắn sẽ còn quay lại đây.
Vương nghe hết những lời nhà sư nói. Chàng cảm thấy có thứ gì đó lớn hơn, quan trọng hơn việc báo thù. Ở nhà sư này còn có cái gì đó lớn hơn các tuyệt kỹ kiếm thuật. Chàng nghĩ, mình sẽ phải học cho hết.
Từ hôm đó chàng Vương chú tâm vào việc mình làm, không thắc mắc gì nữa. Chuyện với tên kiếm sĩ kia chàng cũng không còn lấy đó làm giận, đôi lúc chàng nghĩ đó là cái duyên đã đưa chàng đến đây. Hàng ngày vẫn đi lấy nước hái rau, nhưng giờ chàng đã quen, làm thoăn thoắt, thời gian thừa ra nhiều chàng đi xem cả ngọn núi, xem hòn đá này, khe nước nọ, hang đá, cây tùng. Nhà sư cũng không còn ngủ dài mỗi khi ăn cơm xong nữa, sáng sáng ông dậy sớm hơn, vui vẻ hơn. Một hôm ông nói với chàng:
- Con xem, sắp đến mùa đông rồi. Trên núi này mùa đông rất lạnh, ta hãy lo liệu từ bây giờ đi.
Chàng thưa:
- Mọi năm thầy thường trú qua mùa đông thế nào?
- Một mình ta thì không có vấn đề gì, ta chỉ cần vào một hang đá, ngồi kiết già trong đó, với một chút nấm và rau là qua được cả mùa đông. Nay thêm con nữa thì phải đi hái nấm, hái rau từ bây giờ mới đủ, mấy tháng nữa mùa đông đến cây cỏ trên này đóng băng hết chả còn gì đâu.
Chàng Vương vâng lời. Từ hồi lên núi đến nay, chàng đã biết được nhiều cây thuốc, cây nấm. Nhưng chàng vẫn nghĩ, với ít nấm này liệu có đủ cho cả hai thầy trò? Nếu trời đất bất thường, mùa đông kéo dài hơn một chút mà rau và nấm không đủ thì biết làm sao. Nhà sư đoán biết điều đó, bảo chàng:
- Cứ yên tâm mà đi hái nấm. Trời cho lạnh ắt cho ấm, cứ thuận theo trời là sống, không phải lo.
Chàng Vương chưa hiểu, nhưng cũng không hỏi nữa.
Hái nấm được một tháng trời. Núi này không có nhiều nấm, chàng đi tìm, đi hái nấm mất nhiều công sức. Có những cây nấm nằm cheo leo vách đá, có giỏ nấm thì nằm trên nhành cây chĩa ra vực. Có hôm chàng đành tặc lưỡi khi thấy một cây linh chi to hơn hai bàn tay nhưng lại mọc trên một khe đá dựng đứng không có lấy một chỗ để bám, chàng không sao với lên được. Chàng đang định bỏ đi, thì nhà sư ngăn lại. Ông nói:
- Hãy xem ta đây.
Nhà sư hít một hơn, rồi bất giác dang hai tay bám vào vách đá, như một con thạch sùng bò trên tường, ông nhẹ nhàng bò tới chỗ cây nấm rồi hái về. Vương tròn mắt kinh ngạc. Khi nhà sư đặt chân xuống đất, chàng quỳ xuống lạy:
- Thưa thầy, thật kinh ngạc. Làm sao thầy có thể trèo được ở một vách đá dựng đứng không hề có chỗ bám như thế? Con không thể tin được nơi mắt mình nhìn thấy.
Nhà sư cười đáp:
- Phải biết quên đi thân thể nặng nề này thì mới làm như thế được.
- Con không hiểu, thế nào là quên đi thân thể nặng nề của mình? Xin thầy chỉ bảo.
Nhà sư đáp:
- Trèo vách núi như vậy cũng không có gì là đáng học. Rồi ngươi sẽ được học thứ còn quan trọng hơn thế.
- Kỹ năng tuyệt diệu như vậy thầy còn cho là không đáng học, vậy hẳn thầy còn nhiều thứ tuyệt hơn thế nữa chăng?
Nhà sư cười:
- Đúng đó. Leo được như thế đã coi là giỏi, nhưng ta có cách này còn hay hơn: Con đi tìm một cây sào dài là cũng hái được cây nấm một cách dễ dàng hơn cả ta.
Chàng Vương lắc đầu:
- Thầy nói vậy sao được, lấy cây sào hái nấm thì ai cũng làm được, còn leo được như thầy thì con mới thấy thầy làm được.
- Con thử nghĩ xem, con chỉ cần một ngày đi trong núi là kiếm được một cây sào, còn ta để leo được như vậy đã phải khổ công luyện tập 5 năm trời, mà cuối cùng cũng chỉ hái được cây nấm. Vậy tại sao lại mất nhiều công sức làm gì?
Chàng nói:
- Nhưng làm được như vậy thì ta còn có thể làm được nhiều điều khác hay hơn là hái nấm....
Chàng chưa nói hết câu, nhà sư đã gạt đi:
- Ấy vậy nên nó mới không đáng để luyện tập. Ngươi nghĩ xem, nếu kẻ có lòng tham mà học được chiêu này, hắn sẽ trèo tường như đi trên đất, ăn trộm dễ như đi chơi. Kẻ có ác tâm mà học được chiêu này thì tai họa biết đâu mà lường. Dù người không ác mà học được chiêu này, thì với khả năng đặc biệt ấy lòng tham cũng dễ nổi lên. Do vậy mà tuy ta biết được chiêu này đã lâu nhưng ta chỉ dùng nó để hái nấm mà thôi.
Chàng Vương nghe vậy, bụng vẫn muốn học mà lại thôi không dám hỏi nữa. Nhưng mỗi lúc rỗi rãi, chàng lại ra chỗ vách đá này, thử áp người vào vách bò lên như thầy, nhưng mãi không thể được. "Phải quên đi thân xác nặng nề này", nhà sư nói thế, nhưng cứ mỗi lúc áp người vào vách đá là chàng lại nghĩ ngay đến thân xác nặng nề của chàng, lại nghĩ làm sao để quên đi được. Cuối cùng thì chàng cũng đành bỏ vách đá đó.
Tuyết bắt đầu rơi trên chiếc lều lá, hai thầy trò chuyển vào trong hang núi, ngoài cửa hang chất đầy cỏ khô, trong hang hai thầy trò cũng trải cỏ khô lấy chỗ nằm. Chàng để ý thấy nhà sư không bao giờ nằm, chỉ ngồi kiết già yên lặng suốt đêm, có hôm nhà sư ngồi như vậy đến tận trưa hôm sau làm chàng lo lắng. Nhà sư chỉ rời chỗ một lúc để ăn một ít nấm, rồi lại ngồi như vậy. Chàng Vương ăn khỏe, chỉ lo đến chuyện không còn nấm để ăn, nhưng nhà sư mỗi ngày chỉ ăn một cây nấm hương bé như ngón chân cái. Chàng lấy thế làm kỳ lạ, xưa kia chàng có nghe nói đến các vị chân nhân trên núi cao chỉ cần ăn sương tuyết, ngao du cùng mây gió nhưng chàng không tin. Nay ngay trước mặt chàng có một người kỳ lạ, chàng có phần tin, lại còn nghĩ nhà sư này còn giỏi nhiều thứ nữa.
Một hôm, nhà sư xuất định, ngồi bình thường, gọi chàng lại bảo:
- Hôm nay ta sẽ dạy cho con phép này. Đây là phép để di dưỡng tinh thần, an định thân thể, trước thì để giúp mình an trú suốt mùa đông, sau thì giúp ích cho mình cả đời không biết đâu mà kể.
Chàng háo hức, nhưng im lặng nghe thầy. Nhà sư nói tiếp:
- Phép này đơn giản là ngồi bắt chéo chân nọ lên chân kia, lưng thẳng mà hít vào thở ra. Mới tập thì chỉ ngồi được một khắc, tập nhiều thì ngồi bao lâu cũng được. Mới tập thì hơi thở chỉ sâu đến cổ họng, thành thục rồi thì hơi thở sâu đến gót chân. Tập sơ sơ thì điều hòa được thân thể, tập thành thục rồi thì thu được chân khí của đất trời. Ta nhờ thu được chân khí của đất trời mà chẳng cần ăn nhiều vẫn sống khỏe mạnh suốt mùa đông, bao nhiêu năm không hề bệnh tật. Phép này đơn giản là hít vào thở ra, nhưng sự thần diệu của nó thì thật vô cùng.
Nói rồi nhà sư lại ngồi kiết già, bảo chàng hãy ngồi theo như thế. Chàng hý hửng vội xếp chân chéo nhau. Nhà sư nhắc: Hít vào, chàng chậm rãi hít vào. Nhà sư nói: Thở ra, chàng từ từ thở ra...
Chà, phép lạ chỉ đơn giản vậy thôi sao? Chàng ngồi ngoan ngoãn hít thở theo lời nhắc của nhà sư, nhưng ngồi được một lúc thì thấy nghi ngờ. Làm sao chỉ hít thở mà lại thần diệu như nhà sư đã nói được? Chàng nghĩ ngợi, và thở vào thở ra không đúng nhịp của nhà sư nữa. Nhà sư kiếm đâu ra một cái roi, quất lên đầu chàng một cái làm chàng đau điếng. Ông quát:
- Nhắm mắt lại, hãy thở cho đúng nhịp, chớ có nghĩ ngợi vẩn vơ.
Chàng vội nhắm mắt, lại bắt đầu thở theo nhịp nhà sư nói. Được một lúc, lưng mỏi nhừ, chàng hơi còng lưng xuống. Nhà sư lấy roi quất lên lưng chàng, quát:
- Ngồi thẳng lưng lên, không được làm biếng!
Chàng lại cố giữ thẳng lưng. Một lúc nữa thì hai chân tê buốt, chàng thấy trong người khó chịu vô cùng, hơi thở bắt đầu loạn lên. Nhà sư nói:
- Đủ rồi, hãy duỗi chân ra.
Chàng nghe theo, duỗi chân ra xoa bóp một lúc, rồi nằm kềnh ra cho đỡ mỏi lưng. Mới được một lúc, nhà sư lại bắt dậy, ngồi kiết già tiếp. Chàng đành ngồi dậy. Xưa kia luyện kiếm cũng vất vả nghiêm khắc, nên chàng cũng biết rõ để học được cái gì đó thì vất vả như thế nào, nay lại thấy tận mắt nhà sư làm được điều kỳ diệu nên chàng không phản ứng gì cả, thầy dạy thế nào thì tập theo thế ấy. Chỉ ngồi yên và hít thở mà cũng khó khăn quá chừng, một lúc lại đau chân mỏi lưng, hoặc thở sai nhịp thầy hô, hoặc buồn ngủ, hoặc nghĩ ngợi vẩn vơ. Mỗi lần thấy chàng thở sai nhịp, nhà sư lại lấy roi quất lên đầu chàng, chàng vội tập trung trở lại. Khi chàng mỏi lưng cựa quậy nhà sư lại lấy roi quất vào lưng, chàng lại phải ngồi thẳng lên. Đến khi quá mỏi thì mới được thầy cho duỗi chân nghỉ ngơi....
Cứ tập như vậy, chàng không còn biết bên ngoài thời gian đã trôi qua bao lâu. Chàng đã ngồi được cả ngày mà không thấy mỏi, không cần thầy dùng roi nhắc nhở nữa. Mùa đông đã trôi qua khi nào. Một hôm nhà sư nhắc:
- Mùa đông đã qua rồi đó, con xem ta vẫn còn nhiều nấm và rau này.
Chàng ngồi duỗi chân ra bình thường, thốt lên:
- Thật là kỳ diệu! Giờ con có thể ngồi lâu như vậy mà không thấy khó chịu gì, thậm chí còn thấy dễ chịu.
Nhà sư cười đáp:
- Con học nhanh đó. Nhưng đó mới chỉ là tập sơ sơ, thành công bước đầu thôi, nhưng còn lâu nữa con mới tới được chỗ thần diệu của phép ngồi hít thở đó. Nay đã qua mùa đông, nhưng từ nay con phải luyện tập nó mỗi ngày cho đến khi thật thành thục.
Mùa xuân đến, tuyết trên núi tan chảy thành những dòng suối lớn. Một hôm nhà sư gọi chàng Vương đến một con suối do tuyết tan chảy, ông bảo chàng cởi áo ra. Tiết trời còn khá lạnh nhưng vẫn còn dễ chịu, nước suối do băng tuyết tan thì vẫn lạnh buốt. Nhà sư cũng cởi áo, rồi nhẹ nhàng bước xuống con suối, ngồi kiết già chỗ sâu nhất, nước ngập lên đến tận cổ. Ông gọi chàng Vương hãy xuống ngồi như ông. Chàng Vương thấy nước lạnh còn ngần ngại, nhưng chàng đã có niềm tin lớn nơi thầy, chàng nghĩ nếu thầy muốn mình làm thì chắc chắn thầy biết mình làm được. Chàng rón rén đặt chân trần xuống dòng nước. Chà, nước lạnh cóng, chàng vội rụt chân ngay lại. Nhưng nhà sư đã gọi:
- Đừng sợ, hãy xuống đi.
Chàng cho hẳn một chân xuống nước, bàn chân co quắp lại, chàng loạng choạng ngã nhào xuống luôn. Chàng vội chạy lên bờ, tay nọ ôm vai kia, suýt xoa:
- Thưa thầy, con chưa thể xuống nước lạnh ngay như thầy được. Thầy có cách nào giúp con dễ dàng hơn không?
Nhà sư ngồi im lặng không nói nữa, mắt ông nhắm lại. Chàng hiểu là mình phải xuống ngồi được dưới đó. Lần này chàng hết sức trấn tĩnh, không để giật mình như hai lần trước nữa. Chàng cố gắng ngồi xuống yên lặng, nhưng mặt chàng nhăn nhó vì rét buốt. Nhà sư vẫn nhắm mắt, cất tiếng nói:
- Đừng làm ra vẻ khó chịu, hãy cứ thả lỏng đi. Không được thở bừa như vậy, phải thở cho đúng nhịp, rồi cái lạnh sẽ hết.
Vương thưa:
- Thưa thầy tập thế này để làm gì?
- Trời có nóng có lạnh, hết nóng rồi thì phải lạnh, lạnh rồi thì phải nóng. Người cũng như trời, có phải chịu lạnh như vậy thì lửa tam muội trong cơ thể mới sinh ra. Khi lửa tam muội đã cháy lên rồi thì không lo gì trời bên ngoài lạnh nữa.
- Lửa tam muội ấy là gì?
- Lửa tam muội ấy gốc là ở thận, khi sinh ra thì theo mạch Đốc mà chạy lên đầu, lại theo mạch Nhâm mà vòng ra trước người, tụ lại nơi Đan Điền. Từ Đan Điền dùng tâm điều lửa ấy đi khắp cơ thể.
- Nếu vậy thì sao lại có nhiều người bị chết cóng? Họ không sinh được lửa tam muội chăng?
- Vì khi người ta bị lạnh người ta chỉ nghĩ đến sưởi ấm bên ngoài mà không biết đến đốt lửa bên trong cơ thể. Và để đốt lên lửa tam muội thì phải tĩnh tâm, người thường khi bị rét thì lo lắng sợ hãi, tâm thần cuống cuồng hoảng loạn không làm sao tĩnh tâm điều khí được, vậy làm sao khiến lửa tam muội sinh ra? Thôi không hỏi nữa, hãy giãn khuôn mặt ra và chú tâm vào hơi thở của ngươi đi.
Vương cố gắng giãn khuôn mặt ra, quên đi cái rét cắt da cắt thịt mà hít thở cho đều cho sâu. Chàng nén khí thật mạnh vào trong bụng, cơ bụng căng cứng lên, cố gắng tưởng tượng đưa luồng khí nóng trong bụng đến chân tay, theo phép vận khí ngày xưa chàng được học khi học kiếm. Vốn là nếu chỉ dùng sức tay mà cầm kiếm để chém thì không được mạnh, muốn chém thật mạnh phải hít khí nén đầy Đan Điền, rồi vận khí lên tay cầm kiếm. Khi vận khí như vậy thì cả Đan Điền lẫn mặt đều nóng lên. Chàng Vương không chịu được lạnh, cố gắng làm như vậy để giữ ấm. Chàng nén khí, vận khí quá mạnh, được một lúc thì thở hổn hển, mặt đỏ gay dù chân tay dần tím ngắt. Nhà sư nghe thấy chàng thở không còn đều, vội quát:
- Dừng lại ngay, ngươi đã trái lời ta dạy!
Mặt chàng bỗng chuyển sang tái mét, chân tay co quắp hết lại. Nhà sư vội xuất thiền, kéo chàng lên bờ, lấy quần áo khô của mình lau sạch nước trên người chàng Vương rồi mặc quần áo của chàng lại cho chàng. Chân tay chàng Vương co quắp không thể nào duỗi ra được, mãi nhà sư mới mặc cho chàng quần áo được. Chàng không đứng nổi, nhà sư đành kéo chàng ra chỗ khô ráo, tìm cây cỏ đốt một đống lửa cho chàng sưởi. Chàng Vương cứ rên hừ hừ. Nhà sư nói:
- Ngươi đã làm không đúng lời ta, vì sốt ruột mà ngươi đã vận khí sai lầm , làm tổn thương chân khí, kinh mạch rối loạn. Cái thứ khí nóng sinh ra trong bụng ấy là do đốt tinh thành khí, không phải là lửa tam muội, ngươi đốt quá mạnh khiến cho tinh khí bị tổn thương. Da thịt thì lạnh ngắt mà vẫn phải đốt nóng lên một cách từ từ, không thể vội vàng. Ngoài lạnh như cắt mà trong đốt nóng lên đột ngột, chỉ làm hại thân mà thôi.
Sau buổi đó, chàng Vương cảm lạnh mấy hôm liền, chỉ nằm được co quắp một chỗ cạnh đống lửa, hàng ngày nhà sư phải đi hái thêm rau thêm thuốc để giúp chàng bồi bổ lại chân khí. Mấy hôm sau chàng đã đứng lên đi lại được, nhưng sức đã yếu đi nhiều.
- Kẻ luyện võ mà không biết vận khí đúng đắn, dễ bị tẩu hỏa nhập ma, tàn hại cơ thể, kinh mạch rối loạn, võ công do đó mà bị phế suốt đời. Kể từ nay ngươi phải tuyệt đối nghe lời ta, không được vội vàng, không được tự ý kẻo tự mang họa vào thân.
Chàng Vương vâng lời. Một tháng liền sau đó chàng chỉ ngồi một chỗ, hít thở cho đều cho sâu để điều hòa lại cơ thể, mãi cơ thể chàng mới trở lại bình thường. Nhưng cứ thấy nước là chàng sợ. Trong thời gian đó, nhà sư ngày nào cũng vẫn ra ngồi kiết già dưới nước hàng giờ liền.
Trời đã ấm lên nhưng chàng Vương vẫn còn hay rùng mình. Nhà sư hàng ngày đều giục chàng xuống nước tắm rửa, mà chàng cảm thấy sợ nước, cứ thấy nước là co hết người lại.
- Ngươi là kẻ hèn nhát. Mới bị lạnh một lần mà định không tắm cả đời sao?
Chàng Vương không trả lời. Bản thân chàng cũng muốn luyện tập được như nhà sư, nhưng cứ mỗi lần đến bờ suối là cảm giác hãi hùng buổi đó lại trở lại. Nhà sư bỏ mặc chàng, chẳng đả động gì đến nữa. Mấy hôm sau, chàng Vương đang ngủ thì bị nhà sư trói hai tay chàng lại đằng sau lưng, lại trói cả hai chân, kéo chàng ra bờ suối, lại buộc một sợi dây một đầu vào hai chân chàng, đầu kia buộc vào một gốc cây, rồi bỏ đi. Chàng Vương bị trói tay phía sau lưng không sao xoay sở được, dù sợi dây buộc vào gốc cây cũng khá dài. Nhà sư bỏ đi rồi, có kêu gào gì cũng vô ích, hơn nữa trong thâm tâm con nhà võ chàng không hề có ý nghĩ kêu gào hay than thở. Chàng nghĩ, mình cứ ngồi vậy thôi cho đỡ mệt, nhà sư cũng không thể bỏ mình mãi thế này được. Nhưng cả ngày chẳng thấy nhà sư đâu, chàng khát nước khô cả cổ. Chàng ngồi ngay gần bờ suối, sợi dây trói chàng đủ dài để chàng ra bờ suối uống nước. Cuối cùng không làm sao được nữa, chàng vặn vẹo như con lươn, trườn ra bờ suối. Lần này không có bát hay tô để uống nước mà phải vục cả mặt xuống nước mà uống. Nước suối chảy ào qua mặt chàng, ướt hết tóc tai chàng. Chàng giật mình, cảm giác sợ nước lại trở lại, nhưng đầu chàng đã ướt hết cả rồi. Bỗng nhiên chàng trườn hẳn lên bờ, cười ha hả. Chẳng biết nhà sư từ chỗ nào, đột ngột xuất hiện, hỏi to:
- Ngươi cười cái gì? Nói cho ta biết!
Chàng xoay lưng ra phía nhà sư, ra hiệu nhà sư cởi trói cho chàng. Nhà sư đi thẳng đến, cởi trói cả chân tay cho Vương. Vừa được cởi trói xong, chàng Vương nhảy ào xuống suối, cười ha hả. Nhà sư trên bờ cũng cười hả hê. Vậy là chàng Vương đã hết sợ nước.
Hôm sau chàng theo nhà sư ra suối. Tuyết đã tan hết từ lâu, nước suối nông và không còn lạnh, chàng dễ dàng ngồi kiết già trong nước và giữ được hơi thở đều. Đến khi lên bờ, nhà sư hỏi:
- Hãy nói ta biết tại sao người sợ nước suốt cả tháng trời?
- Vì con sợ nước lạnh.
- Nước lạnh ở đâu?
- Dạ thưa nước lạnh dưới suối.
- Thế nước lạnh đó đã chạm vào da thịt ngươi chưa?
- Dạ chưa, con chỉ nhìn thấy nước suối là con đã sợ.
- Vậy nói lại cho ta biết, cái lạnh đó ở đâu?
- Thưa ở trong nước suối tuyết vừa tan.
Nhà sư lấy roi quất vào đầu chàng Vương, quát to:
- Nước lạnh không ở dưới suối, nước lạnh là ở tâm nhà ngươi thôi!
Chàng Vương hơi giật mình vì bị thầy quát, nhưng bất chợt lại cười ha hả:
- Thầy nói đúng! Tại con sợ nước lạnh nên chưa xuống suối chỉ cần nhìn thấy nước suối là đã ớn run người.
Rồi chuyện chàng Vương tu tập ra sao trong suốt ba năm tiếp theo thì không ai biết rõ. Chỉ nghe người sau kể rằng trong suốt ba năm đó, hai thầy trò ít gặp mặt nhau, chàng Vương thường lên đỉnh núi ngồi thiền, có lúc lại ngồi dưới suối, mùa đông hai thầy trò lại vào ngồi thiền trong hang. Ba năm ấy nhà sư đã dạy cho chàng Vương những gì thì không ai rõ cả.
Vậy là đã 4 năm từ khi chàng Vương lên núi. Suốt 4 năm đó chàng không động tay múa kiếm, chàng đã quên luôn việc giục nhà sư dạy kiếm cho mình. Chàng cũng không còn nghĩ đến thời gian thử thách của nhà sư là bao lâu nữa, hàng ngày chỉ ngồi kiết già, tĩnh lặng không suy nghĩ. Chuyện xuống núi chàng cũng quên, tên kiếm sĩ ngày nào chàng cũng không còn giận. Bỗng một hôm khi chàng mở mắt xuất thiền thì thấy nhà sư ngồi ngay trước mặt. Chàng cúi lạy. Nhà sư nói:
- Con có thể học kiếm rồi đó!
Chàng vẫn tĩnh lặng như không, cúi lạy thầy một lần nữa. Nhà sư đứng dậy, chàng cũng đứng dậy đi theo. Xuống đến chỗ bằng phẳng chàng đã dựng lều lá năm nào, nhà sư ngồi xuống im lặng. Chàng Vương tìm lại hai thanh kiếm báu đã cất kỹ trong một khe đá, hai thanh kiếm vẫn sáng ngời không hề hoen gỉ. Chàng trịnh trọng quỳ xuống, hai tay nâng một thanh kiếm lên trước mặt thầy. Nhà sư ra hiệu cho chàng ngồi bình thường. Ông trịnh trọng nói:
- Con đã qua được thử thách. Chỉ khi con không còn nghĩ đến chuyện báo thù, nổi danh, không còn ý định học kiếm, ấy mới là lúc con có thể học được tuyệt kỹ. Phép dụng kiếm của ta là không vướng mắc vào kiếm, nếu tâm còn nghĩ đến kiếm thì không sao dụng kiếm cho giỏi được.
Chàng Vương lĩnh hội ngay. Chàng đã tập thiền ba năm, giữ tâm hư tĩnh không nghĩ ngợi gì cả, nay thầy nêu chuyện học kiếm thì chàng cũng học, chỉ để học mà không còn những mục đích trước kia nữa. Nhà sư nói tiếp:
- Nếu dụng kiếm mà cái tâm không hư tĩnh thì không sao đạt được đến chỗ cao nhất của kiếm thuật. Bởi lẽ, tâm không hư tĩnh thì khi đấu kiếm dễ nổi lên giận dữ, sợ hãi, những thứ ấy đều làm mình mất tự chủ. Hoặc tâm không hư tĩnh, chỉ nghĩ đến việc tìm đường kiếm sơ hở của đối phương, hoặc chỉ nghĩ đến chuyện đánh trúng đối phương, hoặc nghĩ đến phải dùng miếng đánh nào, đều làm cho mình chậm chạp. Vậy nên, để đạt được chỗ cao nhất của thuật dụng kiếm thì trong tâm phải không còn có kiếm nữa.
Chàng Vương lạy tạ. Nhà sư nói tiếp:
- Hôm nay chỉ học bấy nhiêu thôi. Đêm nay con hãy nghiền ngẫm lại điều ta vừa nói.
Phần 4: Học kiếm
Lại nói chuyện chàng Vương, sau 4 năm đã được nhà sư truyền dạy kiếm thuật. Lúc này chàng đã không còn bận tâm gì đến chuyện học kiếm nữa, chuyện trả thù chàng đã quên từ lâu. Chàng im lặng, làm theo những điều nhà sư nói, không thắc mắc cũng không phản kháng. Đã 4 năm không cầm đến kiếm, nay tay chàng có phần gượng gạo, không còn nhanh nhẹn, tinh tế như trước, nhưng chàng không lấy đó làm bận tâm. Nhà sư thì không hề cầm đến kiếm, ông chỉ nói chứ không múa kiếm, không cầm kiếm chỉ dạy bao giờ. Chàng Vương dâng bảo kiếm lên thầy mấy lần nữa, nhà sư đều gật gù rồi lại để chàng cất đi, mà không nhận. Có hôm chàng Vương hỏi:
- Thầy đã nhận con làm đồ đệ, đã muốn truyền dạy kiếm thuật cho con, vậy xin thầy hãy nhận kiếm cho trọn đạo thầy trò. Và còn tiện để dạy dỗ con hơn là dạy bằng tay không.
Nhà sư đáp:
- Ta đã từng nói là hơn 50 năm nay ta không động đến kiếm, hôm nọ ta chẳng bảo con là phép dụng kiếm của ta không còn vướng mắc vào kiếm nữa ư?
Chàng Vương hỏi:
- Xin thầy cho con được biết vì sao thầy đã quyết về ở ẩn, rửa tay không đụng đến kiếm hơn 50 năm trước? Cao thủ trên đời thật không dễ có người như thầy.
Nhà sư đáp:
- Thứ kiếm ấy là kiếm của người thường, kiếm thuật ấy cũng là kiếm thuật của người thường. Thứ kiếm dùng để chém người, đâm người, để tranh đua địa vị danh lợi, để khiến thiên hạ khiếp sợ nể phục không phải là kiếm của bậc đại trượng phu. Trước đây ta cũng chìm đắm trong ganh đua, danh lợi, kiếm trong tay ta đã giết không biết bao nhiêu người. Tuy giang hồ đều nể sợ ta, nhưng ta cũng nơm nớp lo sợ, đêm ngày không yên. Gây oán tất bị báo oán, lấy mạng thì phải đền mạng, dù ta có là cao thủ lúc này thì lúc khác cũng có cao thủ khác, đến lúc đó thì ta cũng sẽ phải trả nghiệp. Ngẫm như vậy nên ta chán kiếp cầm kiếm lang thang, đâm chém tranh giành với thiên hạ, mang tâm sám hối mà giải quyết chuyện thù hằn. Không phải ai cũng chịu giàn hòa với ta, nhưng họ cũng không làm gì được ta. Ta cũng không phải vì sợ họ trả thù mà trốn lên núi này. Chỉ vì thấy chán ngán trước cảnh tranh đua, thù này lại sinh oán khác, oán thù cứ chồng chất như núi mà không sao hết được. Kiếm thuật người thường chỉ gây thêm oán thù mà không thể làm vơi đi, nên không phải là thứ mà bậc đại trượng phu thích. Ta băn khoăn tự hỏi, có thứ kiếm nào, có thứ thuật nào mà khiến thiên hạ không còn thù oán, không còn chém giết nhau, không phải tranh giành lẫn nhau. Ta gặp một nhà sư, ông ấy nói cho ta nghe về lòng từ bi, ta đã như người say tỉnh mộng. Ta tìm lên núi này để trai giới, tu tâm, dù chưa một ngày qui y, chưa bao giờ tụng kinh nhưng cũng tự coi như mình đã thuộc về nơi cửa Phật. Và khi từ bỏ thứ kiếm thuật của người thường, thì ta đã đắc được thứ kiếm thuật vô thượng, chính là thứ mà ta dạy ngươi đây. 4 năm qua là để ngươi từ bỏ kiếm và kiếm thuật của người thường đi, nếu còn vương vấn thì ngươi không sao học được thứ kiếm thuật vô thượng này. Kiếm thuật vô thượng của ta không cần dùng kiếm, nhưng ngươi hãy cứ tạm dùng thanh kiếm của ngươi đi, coi đó là phương tiện, đến khi ngươi đắc được kiếm thuật vô thượng của ta thì hãy bỏ nó đi.
Chàng Vương cúi lạy. Thứ kiếm thuật vô thượng ấy là gì? không phải là thứ chàng múa hàng ngày, và cũng không phải để tranh giành, hơn thua với người đời. Chàng chắc mẩm như vậy. Thế thì liên quan gì đến thanh kiếm này, sao ta lại phải dùng nó? Nó làm phương tiện như thế nào đây?
Chàng tự hỏi nhiều câu nhưng không biết trả lời thế nào. Nhà sư nói:
- Ta biết con có nhiều thắc mắc, mà con sẽ phải tự giải đáp lấy. Khi nào con có thể giải đáp được hết thì ta cũng không còn gì dạy con nữa, con có thể xuống núi như đại sư huynh của con 30 năm trước.
Nhà sư không hề chỉ cho chàng phải múa kiếm như thế nào, phải đâm như thế nào, chém ra sao... Mỗi khi chàng cầm kiếm lên để múa, ông chỉ nói: Hãy buông thanh kiếm trong đầu con ra. Chàng không hiểu thế có nghĩa là gì, nhưng khi nào chàng hỏi nhà sư cũng chỉ nhận được câu trả lời: Tự con phải giải đáp lấy. Ông quan sát chàng mỗi khi chàng múa kiếm. Chàng múa không được nhanh nhẹn chính xác như hồi còn chưa lên núi, có lúc chàng cố múa tít lên thì bị nhà sư quát dừng lại, ông lấy roi đánh mạnh vào tay chàng. Ông quát to:
- Tại sao ngươi phải nghĩ đến chuyện múa kiếm nhanh hơn!
Chàng Vương lại múa tiếp, vừa múa vừa nghĩ, hay là phải múa chậm, như người ta tập Thái Cực Quyền? Chàng lại múa chậm lại. Nhà sư quát to, lấy roi đánh vào đầu chàng:
- Ta bảo ngươi phải buông thanh kiếm trong đầu ngươi đi, mà sao người không chịu buông?
Chàng chợt quẳng thanh kiếm ra, sụp xuống lạy:
- Thưa sư phụ con hiểu ra rồi!
- Hiểu rồi thì hãy múa kiếm cho ta xem!
Chàng nhặt thanh kiếm lên, múa một hồi, động tác thanh thoát uyển chuyển kỳ lạ. Một hồi chàng dừng lại, nhà sư hỏi:
- Ngươi vừa múa cái gì vậy? Múa lại cho ta xem.
Chàng lại múa một hồi nữa, lần này loạn xạ không giống như lần trước. Khi chàng dừng lại, nhà sư lại hỏi:
- Ngươi múa cái gì vậy? Tại sao hai lần mà ngươi múa khác nhau, lần đầu thì thanh thoát mềm mại, lần sau thì như gà vịt chạy rông thế?
Chàng thưa:
- Con có biết gì đâu. Lúc đó tay con tự nhiên múa, thân con tự chuyển động mà thành bài, con có nghĩ gì, nhớ gì đâu.
Nhà sư gật đầu đáp:
- Vậy là ngươi đã thật sự biết bỏ kiếm ra khỏi đầu rồi.
Hai thầy trò cùng cười ha hả. Từ hôm đó trước khi cầm kiếm chàng đều ngồi thiền cho đầu óc hoàn toàn tĩnh lặng, không nghĩ gì đến kiếm nữa, không còn nghĩ mình phải múa nhanh múa chậm, sang phải sang trái thế nào nữa, lúc đó chàng mới đứng dậy cầm thanh kiếm, và múa. Có lúc thì nhanh nhẹn đẹp mắt như rồng bay phượng múa, có lúc thì loạn xạ như tổ ong bị hun khói, có lúc thì vun vút như mưa như gió, có lúc lại chậm chạp như bướm thong thả lượn cành hoa, không lần nào giống lần nào. Khi mỏi mệt thì nghỉ, khi múa thì say mê đến mức thầy đến, thầy gọi cũng không biết. Nhà sư hài lòng.
Một hôm, nhà sư đến khi chàng đang múa kiếm, ông im lặng đợi chàng ngừng lại. Chàng cứ múa mãi. Đến chiều tối vẫn chưa dừng lại, nhà sư vẫn im lặng đứng nhìn. Trăng lên sáng cả ngọn núi, nhiều phiến đá nhọn hoắt in bóng xuống khoảng sân bằng phẳng chỗ chàng đang múa. Những tảng đá không có rêu bàm, không có cây phủ thì sáng lên loang loáng, những chỗ nhiều cây cối thì âm u, tối tăm. Hai cảnh tương phản đến rợn người dưới ánh trăng. Chàng vẫn múa. Nhà sư vẫn đợi. Hai người như say sưa, cùng hòa vào nhau, hòa lẫn lưỡi kiếm loang loáng, hòa lẫn núi rừng thăm thẳm, hòa lẫn ánh trăng bạc như ánh thép, tất cả cùng hòa vào nhau thành một điệu múa.
Đến sáng, chàng Vương dừng lại, đến chỗ nhà sư quỳ xuống lạy:
- Lạy thầy, con có thấy thầy đến, thầy chờ, nhưng con không ngừng lại được.
Nhà sư nói:
- Con đã gạt được kiếm ra khỏi đầu rồi. Nhưng con lại trở thành kẻ mê ngủ.
Chàng thưa:
- Sao thầy lại nói như vậy? Con đã tập luyện ngày đêm, có bao giờ nghĩ đến mệt nhọc đâu.
Nhà sư đáp:
- Con chưa hiểu ra. Nhưng con phải tự hiểu lấy điều ta nói.
Nhà sư rũ áo ra về. Chàng Vương đứng ngẩn ngơ một hồi lâu.
Chàng Vương chẳng hiểu nhà sư nói thế là sao.Mấy hôm rồi chàng không múa kiếm gì nữa, cứ ngồi trên một tảng đá mà suy nghĩ, nghĩ chán mà chẳng ra. Chợt thấy đau điếng nơi vai, quay lại thì thấy nhà sư đang cầm roi. Chàng chưa kịp nói gì thì nhà sư đã mắng:
- Ngươi đúng là kẻ mê ngủ, không sao học được. Lúc nào ta cũng thấy ngươi ngủ gật là sao?
Chàng Vương thưa:
- Con đang tỉnh táo đó chứ, sao thầy nói vậy?
Nhà sư cầm roi gõ lên đầu chàng cái nữa, nói:
- Tỉnh táo thì sao không biết ta đến?
- Thầy đến sau lưng con, làm sao con biết?
Nhà sư lại gõ lên đầu chàng cái nữa:
- Nói bậy bạ. Ngươi là kẻ học võ đã lâu mà lẽ nào không biết, nếu có kẻ đâm lén sau lưng ngươi thì ngươi chỉ biết đổ lỗi cho hắn đâm lén hay sao?
Chàng Vương lạy:
- Dạ thưa sư phụ, con đã hiểu tại sao thầy nói con ngủ gật rồi!
Chàng Vương lại luyện múa kiếm trở lại, vừa múa vừa cố gắng để ý xung quanh. Nhưng hễ để ý đến cái khác thì chàng lại múa sai động tác. Nhưng luyện mãi cũng thành nhuyễn, có lúc chàng vừa múa kiếm vừa nghe chim hót. Một hôm chàng đang múa kiếm say xưa thì nhà sư đến, chàng biết nhưng cứ múa tiếp không chào. Nhà sư bình thản ngồi một lúc, rồi khẽ đọc mấy câu thơ. Chàng Vương vẫn mải mê đâm phải, chém trái. Một hồi sau chàng mới nghỉ, ra vái sư phụ:
- Con đã biết thầy đến, nhưng phải đi cho hết bài nên chưa ra vái thầy ngay được, xin thầy bỏ qua.
Nhà sư hỏi:
- Ngươi không ngủ đó chứ?
Chàng Vương đọc lại mấy câu thơ nhà sư đọc lúc nãy, không sai một chữ. Nhà sư mỉm cười gật đầu.
- Bây giờ con có thể múa kiếm trên vách đá trơn, trên cành cây, trên bờ vực, hay bất cứ đâu được rồi đó, vì con đã nhận biết được xung quanh. Ta gọi đó mới là tỉnh táo, chứ nếu múa kiếm mà chỉ biết mỗi đến múa kiếm thôi thì vẫn mà mê ngủ. Giờ ta không còn gì dạy con nữa, con hãy tự luyện tập cho thành thạo, đừng bao giờ buông thả, hãy luôn luôn tỉnh táo. Khi nào con thấy đủ rồi thì có thể xuống núi lúc nào tùy ý.
Chàng hơi ngạc nhiên:
- Sư phụ chưa dạy cho con một chiêu nào mà đã nói là không còn gì để dạy hay sao? Phải chăng thầy chưa tin tưởng con nên không muốn dạy tuyệt kỹ?
Nhà sư đáp:
- Mọi tuyệt kỹ đều nằm trong hai từ: "buông bỏ" và "tỉnh thức", ta đã dạy con cả rồi, con cũng đã bắt đầu nắm được rồi, giờ chỉ việc luyện cho thành thạo thôi. Như việc ta trèo vách đá dựng đứng khi xưa, ta biết con vẫn thắc mắc thế nào là quên thân thể nặng nề đi, nay con đã biết cách để quên thanh kiếm rồi, thì rồi sẽ tự biết cách mà quên thân thể. Khi nào định xuống núi thì hãy qua gặp ta.
Từ hôm đó nhà sư lại một mình lấy nước, hái rau như xưa, chàng Vương thì nay đây mai đó, khi thì luyện kiếm trên bờ vực, khi thì trên đỉnh núi, khi thì trong khe nước, không mấy khi họ gặp nhau... Tới một hôm, chàng tìm đến nhà sư, tay cầm cả hai thanh kiếm. Mới đó đã sáu năm trời, chàng nghĩ đã đến lúc mình xuống núi. Chàng đưa hai thanh kiếm lên ngang mặt, quỳ xuống trước nhà sư, nói:
- Ơn thầy dậy dỗ bao năm qua không sao kể xiết, nay con xin được từ biệt thầy để xuống núi. Con xa nhà đã lâu, không biết mẹ già giờ ra sao, sợ rằng mình lại mang tội bất hiếu. Những điều thầy dạy con đã hiểu, thật là mầu nhiệm tuyệt vời. Nay xin thầy nhận lấy một thanh kiếm cho trọn nghĩa thầy trò, từ hồi con lên đây thầy chưa bao giờ cho con một cơ hội dâng kiếm báu lên thầy.
Nhà sư cười:
- Con vẫn còn một việc phải làm nữa rồi mới xuống núi được.
Ông cầm lấy mỗi thanh kiếm một tay, chém vào nhau đến tóe lửa, cứ thế mấy lần, rồi lại chém vào đá. Cuối cùng cả hai thanh kiếm đều hỏng cả. Chàng Vương chứng kiến suốt từ đầu đến cuối việc làm đó của nhà sư, nhưng chàng bình thản im lặng. Nhà sư nói:
- Đó là việc cuối cùng. Khi con đã buông bỏ được kiếm trong đầu rồi thì không cần dùng đến kiếm nữa. Ta phá chúng đi để con không bao giờ được vướng mắc vào chúng nữa. Không bao giờ phải dùng kiếm, ấy mới là tuyệt đích của kiếm thuật.
Chàng cúi đầu lễ phép:
- Thưa thầy con hiểu.
Phần 5: Xuống núi
...Chàng thanh thản đi qua hòn đá, khe nước, bụi cây, tìm đường xuống núi. Nhớ lại khi xưa chàng lên đây, mang theo hành lý, hai thanh kiếm cùng lòng thù hận và sốt ruột. Nay chàng xuống núi không mang theo một thứ gì, trong lòng cũng nhẹ nhàng ung dung.
Xuống chân núi, chợt thấy một người đội nón lá, tay xách kiếm đang đi về phía chàng, chừng như người này muốn lên núi. Khi tới gần nhau, chàng nhận ra ngay gã kiếm sĩ năm nào, gã kiếm sĩ đã khiến chàng bại trận, kẻ đã khiến chàng vất vả bao năm nay. Nhưng trong lòng chàng không còn một chút thù hận, khi hắn đến gần chàng cung kính cúi chào. Gã kiếm sĩ thấy lạ, đợi chàng ngẩng mặt lên, hắn ngạc nhiên nói to:
- Ồ ra là chàng Tiểu hổ, không ngờ ta lại gặp nhau. Chàng còn nhớ chuyện khi xưa chăng?
Chàng Vương cười thân mật:
- Chuyện khi xưa đệ còn nhớ, nhờ sư huynh mà đệ đã tìm lên núi, đã gặp được sư phụ mà học được nhiều điều hay, ơn đó của sư huynh thật là lớn.
Kiếm sĩ thốt lên:
- Vậy ra người đã gặp sư phụ ư! Hay, hay lắm, vậy ta là đồng môn rồi, hãy cho ta biết giờ sư phụ ra sao?
Chàng Vương đáp:
- Sư phụ vẫn khỏe mạnh, sư phụ đã từng nói với đệ rằng thế nào sư huynh cũng sẽ quay trở lại đây, nay quả không sai. Có lẽ sư phụ đang đợi sư huynh đó!
Kiếm sĩ cảm động rơi nước mắt:
- Ta biết ngày xưa ta còn mải báo thù nên không tiếp thu được lời dạy của sư phụ, trong lòng luôn thấy hối tiếc. Khi đã trả thù xong hết tự thấy lòng trống trải buồn bã vô cùng, ta không còn biết sống để làm gì nữa. Lúc đó mới ngẫm ra lời dạy của sư phụ, chỉ tiếc là mình đã ngu muội mà không chịu theo. Nay ta phải tìm lên đây để sư phụ dạy dỗ ta lại từ đầu. Trông chàng thật đã khác ngày xưa, thật là điều đại phúc.
Chàng Vương cảm tạ, rồi nói:
- Thôi sư phụ đang chờ sư huynh đó, sư huynh hãy đi ngay. Xin bảo trọng.
Chàng khoanh tay trước ngực từ biệt. Kiếm sĩ cũng khoanh tay trước ngực:
- XIn bảo trọng!
... Chàng Vương trở lại vùng quê cũ. Quần áo chàng đã rách nát từ lâu, thân thể lại gầy gò sắt seo hơn xưa nhiều, tóc chàng rũ rượi lấm lem, trông chàng không khác người ăn mày. Nhưng đôi mắt chàng trong trẻo, miệng luôn mỉm cười vui vẻ. Cách chàng mấy chục thước phía trước mặt cũng có một người ăn mày đầu tóc rũ rượi, trông già cả ốm yếu đang ngồi yên bên đường. Lại thấy một gã trẻ đeo kiếm, đi lại oai phong, người hai bên đường phải cúi đầu tránh đường. Hắn thấy người ăn mày ngồi yên không có vẻ gì cung kính, thì nổi giận quát:
- Tên ăn mày to gan, thấy ta đến mà không biết tránh đường lại dám dương mắt nhìn ta, thật đáng chết.
Nói rồi hắn rút kiếm ra, chĩa thẳng vào ngực người ăn mày đâm tới. Không ngờ người ăn mày kia nhanh thoăn thoắt né được ngay, lại tóm được tay tên kiếm sĩ vặn ngược ra sau lưng hắn, khiến hắn đánh rơi kiếm và đau đớn. Người ăn mày đó nói:
- Ở trên đời này phải biết rằng mình chỉ là kẻ bình thường như tất cả mọi người, chớ nên cậy có chút võ vẽ mà bạo ngược!
Chàng Vương chứng kiến hết, chàng mỉm cười. Người ăn mày dùng tay không hạ được tên kiếm sĩ đó, hẳn là đại sư huynh của ta đây. Khi đi qua người ăn xin đó, chàng cúi đầu chào cung kính rồi lại đi tiếp. Người ấy cũng mỉm cười chào chàng Vương thân thiện. Chàng vui vẻ, chắc hẳn người đó là đại sư huynh đã xuống núi từ lâu nay rồi, trông ông bình thản đến vậy cơ mà... Phía trước chàng lại có một gã kiếm sĩ nghênh ngang đi tới, vừa đi vừa quát om sòm. Chàng vui vẻ cúi đầu, đứng nép mình bên đường chờ hắn đi qua rồi mới đi tiếp.
Phần I. Bá kiếm tiểu hổ
Vùng nọ có truyền thống kiếm thuật, trẻ em 5 tuổi đã cầm kiếm gỗ, 10 tuổi biết múa kiếm sắt, số người kiếm sĩ giỏi của vùng đó nổi danh trên giang hồ không biết bao nhiêu mà kể. Đi ra đường trăm bước gặp một người đeo kiếm, đi hai trăm bước thấy người múa kiếm, bước chân vào nhà nào cũng thấy kiếm treo trên vách. Thiên hạ thật không có nơi nào chuộng kiếm thuật, giỏi kiếm thuật như nơi này.
Vùng đó có một ngọn núi cao, chả ai đặt chân đến vì đường núi hiểm trở. Nhưng dân gian đồn rằng trên đó có một nhà sư đã ẩn tu 50 năm, kiếm thuật của nhà sư ấy vô địch thiên hạ, nhưng ít người có diễm phúc được nhà sư nhận làm đồ đệ. Mà cũng ít người dám đến ngọn núi cô quạnh vắng vẻ đó. Nhìn lên chỉ thấy vách đá dựng nhọn hoắt, mây lượn quanh quyện vào những cây thông già, không một dấu vết nào của con người.
Có chàng thanh niên họ Vương, vốn gia đình dòng dõi kiếm thuật nổi tiếng trong vùng, hễ nhắc đến họ Vương là người người đều kính phục. Chàng họ Vương ấy được dạy dỗ kỹ càng chu đáo từ nhỏ, nên mới hai mươi tuổi đã tài năng xuất chúng, lại đi giao đấu với tất cả các cao thủ trong vùng, chàng chưa một lần thất bại, tiếng tăm lừng lẫy được thiên hạ gọi là Kiếm Bá Tiểu Hổ. Ra đường ai gặp chàng cũng phải cúi chào cung kính, tự tránh sang một bên nhường đường cho chàng thẳng bước. Chàng lấy vậy làm kiêu hãnh, tự hào lắm.
Có một kẻ nông phu không may, cắm cúi kéo xe bất ngờ đâm đầu phải vào chàng. Mọi người xung quanh chỉ kịp thấy một vết sáng loang loáng, rồi người nông phu ấy từ từ đổ gục xuống, máu mới bắt đầu chảy ra, Kiếm Bá ra tay nhanh đến nỗi kiếm của chàng không kịp dính máu. Thiên hạ không ai là không kinh sợ, từ đấy mọi người đều không dám lại gần chàng nữa, chỉ dám vái chào chàng và vội vàng tránh một bên.
Một hôm, Kiếm Bá đi lang thang ngoài đường cái. Ngược chiều Kiếm Bá cũng có một người đội nón lá sụp xuống che hết mắt, tay cầm kiếm đi về phía chàng. Mọi người xung quanh đều đã tránh sang hai bên nhường đường cho chàng đi, nhưng kẻ kia vẫn tiến đến như chẳng có chuyện gì. Kiếm Bá nổi giận, quát nạt:
- Đồ không có mắt, ta là Vương Tiểu Hổ, Kiếm Bá đi giữa ban ngày mà ngươi dám cản đường ta?
Kẻ kia đáp lại:
- Tên vô danh tiểu tốt dám quát ta ư? Tránh ra một bên ngay, trước khi ta nổi giận! Hễ ta nổi giận lên thì ngươi chỉ còn là con ma không đầu!
Kẻ kia vẫn chẳng thèm tránh, còn đứng lại ngẩng mặt lên nhìn Kiếm Bá như thách thức. Kiếm Bá hơi giật mình, xưa nay chỉ có người ta lui trước mặt chàng chứ không có ai dám đứng ngang tàng như vậy. Nhưng giống như bị xúc phạm trước mặt thiên hạ, chẳng quát nữa, chàng rút kiếm lao thẳng vào kẻ thách thức. Kẻ kia chẳng vừa, né một cái, rồi rút kiếm ra đỡ. Hai người đánh nhau hơn trăm hiệp không phân thắng bại, nhưng đã lâu không được đấu với cao thủ nên đường kiếm của Kiếm Bá chợt để lộ chỗ lỏng lẻo. Thế là đủ, kẻ kia chém mạnh một nhát, kiếm của Kiếm Bá bay ra xa mười thước. Chưa kịp hoàn hồn, mũi kiếm của kẻ kia đã chĩa vào cổ họng chàng. Hắn quát:
- Đồ vô danh tiểu tốt, dám vô lễ với ta. Lẽ ra ta phải giết ngươi, nhưng thấy ngươi còn trẻ, ta tha cho lần này. Nói cho ngươi biết, ngoài bậc đại sư trên núi, thiên hạ này không ai địch nổi ta!
Hắn đút kiếm rồi quay đi, để lại chàng Vương vẫn còn đứng thẫn thờ. Thiên hạ xì xào. Khi chàng ngẩng lên nhìn họ, họ lại im lặng, cúi mặt mà tản đi chỗ khác. Chàng cảm thấy một nỗi nhục không thể nào chịu nổi. Ta thề sẽ phải giết chết kẻ dám làm nhục ta hôm nay. Nhưng khốn nỗi, lần đầu tiên ta gặp một cao thủ như hắn, kiếm thuật của hắn hơn hẳn ta mấy bậc. À mà hắn có nói chỉ có nhà sư trên núi là địch nổi hắn, vậy nhà sư ấy không phải là huyền thoại. Ta phải lên đó xin ngài dạy dỗ, quyết học được kiếm pháp về trả cái mối thù này!
Phần II: Bái sư học đạo.
Kể từ sau lần bị tên kiếm sĩ lạ mặt đánh bại, chàng Vương suốt ngày buồn bực, chẳng bước chân ra ngoài vì cảm thấy nhục trước thiên hạ. Ở ngoài kia thiên hạ cũng xì xào, cái chuyện Vương Tiểu Hổ bị đánh bại và suýt chết bởi người kiếm sĩ lạ mặt cứ được bàn tán xôn xao mấy ngày. Vương sốt ruột càng thêm quyết tâm báo thù. Sáng dậy luyện kiếm, chiều luyện chặt chém, nửa đêm có lúc bật mình trở dậy lấy kiếm ra múa. Nhưng bên tai chàng vẫn văng vẳng câu nói của gã kiếm sĩ: Trên đời này chỉ có nhà sư trên núi là địch được hắn thôi. Đường kiếm của gã quá nhanh và kín đáo, lại mạnh mẽ và khôn ngoan. Dân gian lại đồn nhau rằng hắn chính là một đồ đệ của nhà sư, đã xuống núi, thường lang thang đây đó. Vương tự cảm thấy mình cứ luyện mãi thế này thì vẫn không thể bằng gã, trong bụng càng muốn lên núi bái nhà sư làm thầy. Ngặt một nỗi, đã 50 năm người ta không thấy mặt nhà sư, cũng nghe rằng ngài rất khó tính trong việc nhận học trò, đường lên núi cũng rậm rạp hiểm trở mà ngọn núi thì to, không biết nhà sư ở chỗ nào. Cuối cùng thì chàng Vương cũng quyết phải lên đó một chuyến. Nếu nhà sư không nhận chàng làm đệ tử, chàng sẽ nói khích và thách đấu để xem nhà sư có miếng gì độc đáo, sẽ học lỏm. Chàng từ biệt mẹ, nói:
- Mẹ thứ lỗi cho con, xưa nay con vô địch, cao thủ vùng này đều phải bái phục con. Kể từ hôm bị một kẻ vô danh kia làm nhục, con chưa được sống một ngày nào yên. Chỉ có giết hắn trả thù được thì con mới dám ra ngoài đường. Con muốn lên núi bái vị ẩn sư làm thầy, để học kiếm đến khi nào thắng được hắn mới về. Xin mẹ ở nhà bảo trọng, đứa con bất hiếu này đi xa nhưng nhất định chỉ 5 năm sẽ trở về.
Người mẹ nói:
- Xưa nay nhà ta danh tiếng nức vùng, nhắc đến tên thì ai cũng kính nể. Trận thua của con cũng như là nỗi nhục của cả nhà ta, mẹ không giữ con đi tìm thầy. Hãy gắng luyện tập cho giỏi, khi trở về còn giữ gìn danh tiếng tổ tông. Thân mẹ vẫn còn khỏe, con không nên lo lắng.
Nói rồi hai người đi thu xếp tay nải. Vương mang theo một thanh bảo kiếm gia truyền, có một không hai trong vùng này, và một thanh bảo kiếm khác để làm lễ dâng kiếm bái sư, đó là theo truyền thống của vùng, muốn nhận ai đó làm thầy thì phải dâng cho thầy một thanh bảo kiếm, những vị thầy đều là các cao thủ không bao giờ động tay đến kiếm thường. Ngày chàng lên đường, chợt thấy có tên kiếm sĩ đội nón là ngày nào đang đi ngược về phía mình. Vương cúi mặt tránh sang một bên, nhưng trong lòng thầm nhủ: Nhất định ta sẽ giết mày! Không phải lo chuyện gia đình nên chàng một lòng đi thẳng đến ngọn núi. Quả là nơi ít người đến, um tùm rậm rạp, tiếng hổ gầm gió đưa tới tai chàng đã mấy bận. Nhìn lên ngọn núi, chỉ thấy:
Sườn dựng cao chót vót
Mây lụa lượn vờn quanh
Âm u không người đến
Lại ẩn kẻ tu hành
Mây lụa lượn vờn quanh
Âm u không người đến
Lại ẩn kẻ tu hành
Sức chàng Vương khỏe, cứ leo núi băng băng, chỗ nào gặp đá thì trèo qua đá, gặp cây cối rậm rạp thì lấy kiếm phát quang. Chàng leo núi đã hai ngày. Ngọn núi này lớn, không biết nhà sư ấy ở chỗ nào. Bất giác chàng thấy một khe suối nhỏ. Phải rồi, nhà sư không thể sống không cần nước, ta cứ đi theo con suối này ắt tìm ra dấu vết gì. Chàng đi dọc theo con suối, quả nhiên thấy một lối đi giữa đám cỏ cây, ắt là nhà sư theo đường này ra suối lấy nước. Chàng đi theo con đường đó, thật là lạ, trên núi vách dựng nhọn hoắt này mà cũng có một khoảng rộng rãi bằng phẳng, gần đó lại thấy khói bốc lên, đúng là nơi nhà sư ở rồi. Chỗ này quả thật là cao, nhìn xuống còn thấy mấy tầng mây, thảo nào hàng ngày nhà sư nấu bếp người ở dưới cũng không thể thấy khói nên không ai biết nhà sư ở chỗ nào. Chưa thấy người, nhưng lòng chàng Vương vui mừng rộn rã, tháo thanh bảo kiếm ra, hướng về chỗ có khói mà bước tới. Rồi cái gì cần thấy cũng đã thấy, một sư cụ già đang nấu ít rau rừng. Vương chợt khựng lại: lẽ nào ông cụ chậm chạp già nua kia là cao thủ? Chàng không đảnh lễ vội, hỏi cho chắc chắn:
- Cụ già cho hỏi, nhà sư giỏi kiếm thuật ở chỗ nào trên núi này?
Sư cụ ngước mắt lên, thấy một chàng trai khôi ngô vạm vỡ thì mỉm cười hiền từ:
- Cậu lầm rồi, trên này đâu có ai biết đánh kiếm đâu?
Vương hơi giật mình. Chàng đã bỏ sức và quyết tâm, đến đây rồi lại về không ư? Chàng cũng không tin hẳn lời sư cụ kia nói, lại hỏi thêm:
- Vậy cụ cho hỏi, trên núi này còn có ai nữa không?
Sư cụ lắc đầu:
- Nơi thâm sơn cùng cốc này, ngoài bần tăng ra không có ai sống cả.
Chàng Vương hơi nản! Hay là nhà sư huyền thoại kia đã chết, hoặc đã đi đâu rồi. Đã 50 năm người ta không còn thấy ngài nữa, liệu nhà sư ấy còn có ở đây không? Chàng lấy làm buồn bực cho cái sự vô duyên của mình, đã mất công lên đây mà chẳng gặp được bậc chân sư, thù kia biết khi nào trả được? Bất giác chàng rơi nước mắt. Sư cụ thấy vậy bèn hỏi chuyện:
- Cậu có việc gì mà lại lên tìm nhà sư ấy, lại mang theo kiếm nữa?
Vương than thở:
- Chẳng giấu cụ, tôi đã quyết tâm lên đây vì nghe danh tiếng một nhà sư ở ẩn đã 50 năm, kiếm thuật vô địch thiên hạ, muốn bái Ngài làm thầy. Giờ ở đây không có Ngài ấy, tôi làm sao không buồn, biết tìm ngài ấy ở đâu?
Sư cụ ngơ ngác hỏi:
- Ở dưới đó người ta nói gì về ông sư ấy vậy?
- Họ nói rằng có một nhà sư từng vô địch kiếm thuật trong thiên hạ, rồi không biết vì sao lại lên đây ở ẩn đã 50 năm, không thấy nhận ai làm đệ tử để truyền kiếm thuật. Thế mà hôm nọ tôi có gặp một kẻ đánh kiếm rất tài, người ta đồn rằng đó là học trò của nhà sư ấy, nên tôi cũng muốn bái nhà sư ấy làm thầy.
- Lẽ nào họ nói về bần tăng? Bần tăng cũng ở đây 50 năm rồi.
Vương sung sướng quá, vội quỳ xuống:
- Đích thị là thầy rồi. Xin hãy nhận con làm đồ đệ.
Nói rồi hai tây dâng thanh bảo kiếm lên. Nhà sư gạt đi, nói:
- Đã 50 năm nay ta gác kiếm rồi, còn gì đâu mà dạy? Cậu hãy tìm thầy khác đi.
Vương quyết không lui:
- Con đã mất bao công sức đến đây, xin thầy hãy nhận con làm đệ tử. Thầy đã từng nhận đệ tử rồi, sao lại từ chối con?
Nhà sư đáp:
- Đã 50 năm nay ta bỏ kiếm, nay lại thêm tuổi già sức yếu, làm sao ta dạy cậu được. Hãy đi tìm nơi khác đi.
Vương quyết không bỏ. Nhà sư cũng không nhận. Hai người cứ nói qua nói lại mãi. Nhà sư quát lên:
- Đồ ương bướng, học ta thì có ích gì. Cơm của ta chín rồi, ta đi ăn cơm, không nói chuyện với người nữa.
Nói rồi quay đi. Vương túm tay nhà sư lại, tay kia rút kiếm ra, nói:
- Nếu thầy không nhận con làm đệ tử thì hãy xem đường kiếm này đây.
Nói rồi vung kiếm chém xuống đầu nhà sư. Nhà sư né kịp, cuống cuồng nói:
- Từ từ đã, có gì đợi ta ăn cơm xong rồi nói chuyện tiếp.
Vương cười ha hả. Cuối cùng thì nhà sư cũng đã ra chiêu. Người bình thường làm sao né kịp đường kiếm này của ta. Lão muốn giấu nghề ta cũng phải moi ra bằng được.
Nhà sư đi ăn cơm, thực ra toàn là rau rừng, chàng Vương cũng lấy lương khô ra ăn. Ăn xong, nhà sư lăn quay ra ngủ ngay trên một phiến đá một mạch đến gần tối, làm Vương bực bội sốt ruột lắm, nhưng dẫu sao Vương cũng cần nhà sư chỉ bảo, nếu không chắc chàng cũng chẳng chịu để lão sư đó yên. Nhà sư thức dậy, vươn vai uể oải nói:
- Úi chà, đã sắp tối rồi cơ à. Đợi đấy nhé, ta phải đi kiếm ít rau rừng làm bữa tối đã.
Nói rồi nhổm dậy đi ngay, chàng Vương chẳng kịp nói câu nào. Chàng tức ngầm trong bụng. Tối hôm đó, ngay khi lão sư ăn cơm xong, chàng quỳ xuống dâng gươm ngay:
- Thầy đã nói sẽ trả lời con từ buổi trưa rồi, bây giờ xin thầy nhận con làm đệ tử.
Nhà sư già gật đầu:
- Được, được! Nhưng bây giờ muộn rồi, hãy cất kiếm đi ngủ đi đã.
Chàng Vương hỏi ngủ ở đâu. Nhà sư đáp:
- Ngươi thấy quanh đây có chỗ nào ngủ được thì ngủ. Nói rồi nhà sư lại chui vào căn lều lá nhỏ xíu của ông. Vương nhìn quanh chẳng có chỗ nào sạch sẽ, kín đáo cả. Chàng cứ lanh quanh mà chẳng biết làm sao. Đêm trên núi cao lắm sương, khí lạnh toát người, Vương đành đốt một đống lửa để sưởi. Mỏi quá lại nằm ra đất ngay cạnh đống lửa, song khí ẩm làm chàng không thể nào ngủ được. Chàng nghĩ bụng: Ta ở đây còn dài, chẳng lẽ đêm nào cũng ngủ thế này. Ngày mai sẽ kiếm ít cây lá làm một cái lán nhỏ vậy. Chàng cứ trằn trọc mãi đến tận sáng.
Nhà sư cũng chẳng dậy sớm. Mặt trời đã lên cao bằng con sào rồi, ông mới ra ngoài lều, thấy chàng Vương đang ngồi ngủ gà ngủ gật bên đống lửa đã tàn. Ông đánh thức chàng dậy.
- Dậy ngay, đi lấy nước với ta. Muộn đến thế này rồi mà vẫn còn ngủ, làm sao học ta được.
Vương nghe vậy vội vàng tỉnh lại ngay, đứng dậy rũ quần áo còn đẫm sương, nói:
- Xin sư phụ chỉ dạy, con đã sẵn sàng nghe.
- Đi lấy nước với ta!
Nói rồi đưa cho chàng Vương một cái bát sành, nhà sư cầm một cái bát sành nữa, hai người ra suối múc đầy bát nước về đổ vào một cái vại sành. Bát thì bé vại thì to, hai người phải đi gần mười chuyến mới lấy đầy nước vào vại. Đường ra suối thì không dài, nhưng là đường núi dốc, trên cao khí lại loãng, đi đến lần thứ bảy thì Vương đã mệt phờ. Hôm trước chàng cứ leo một mạch lên núi, chỉ nghĩ đến tìm thầy để học nên không biết mệt, qua một đêm khó ngủ lại không quen vận động lâu trong không khí loãng của núi cao, nên đi đến chuyến cuối cùng thì chàng ngồi bệt xuống giữa đường mà thở hổn hển. Ấy vậy mà nhà sư già vẫn đi nhẹ nhàng như bình thường, không thở dốc gì cả. Nhà sư quát lên:
- Mang có cái bát con đi lấy nước mà cũng không nổi, vậy học ta làm sao đây!
Vương lại phải đứng dậy. Trong bụng nghĩ, quái lạ, ông già này trông già cả chậm chạp thế mà dai sức hơn cả ta. Vương nhớ lại hôm đấu với gã kiếm sĩ lạ, đánh hơn trăm hiệp thì Vương lỏng tay để hắn đánh bay kiếm ra ngoài. Gã kia là học trò của ông già này, đã luyện tập ở đây, thảo nào sức hắn cũng bền bỉ và mạnh mẽ đến thế. Không sao, ta sẽ luyện tập chăm chỉ, rồi sức ta cũng mạnh như vậy thôi.
Lấy nước xong nhà sư lại giục theo ông đi hái rau rừng. Vương thì chả biết loại rau nào, nên cố gắng thấy thầy nhặt loại nào thì để ý kỹ. Chàng biết trên này chẳng có lúa gạo gì, rau rừng là chính mà thôi. Hái đủ rau thì cũng đã muộn, hai thầy trò lại về nấu rau ăn trưa. Ăn xong nhà sư lại lăn ra ngủ. Vương cũng chẳng sốt ruột như hôm trước nữa, phần vì chàng đang mệt, phần vì cũng nghĩ phải tranh thủ làm cái lều lá mà ngủ ban đêm. Nghĩ vậy nên trong lúc nhà sư ngủ, chàng lấy kiếm phạt lấy ít cành cây, chọn một chỗ nhiều nắng phơi ít cỏ lá, rồi gác cành cây, lợp lá làm cái lều nhỏ chỉ vừa cho một người. Xong thì cũng gần tối, nhà sư mới dậy, lại giục đi hái rau rừng. Hôm đó chưa học gì cả, Vương cũng không thắc mắc vì thấy mình cũng mệt mỏi, ăn cơm xong là chui vào lều nằm ngay. Cành cây và cỏ lá phơi một buổi chưa khô, mùi nhựa ngai ngái khó chịu, nhưng Vương tặc lưỡi nhủ rằng thôi cố mà ngủ. Ngày thứ hai trên núi đã trôi qua.
Mười ngày sau đó đều như vậy, sáng đi lấy nước rồi hái rau rừng, chiều đợi nhà sư ngủ dậy lại đi hái rau rừng, nhà sư không đả động gì đến chuyện dạy học. Nhưng Vương cảm thấy sức mình cũng đã khá hơn, không còn mệt như những hôm đầu nữa, tự hỏi có lẽ lúc nào mình đủ sức khỏe thầy mới dạy cho chăng?
Trên núi thiếu thốn khắc nghiệt, ăn rau suông đã mười ngày, tuy Vương vẫn đủ sức đi hái rau và lấy nước nhưng cảm thấy khó chịu. Chàng vốn sức thanh niên lại con nhà võ, ăn mấy cũng không no, mà phải ăn toàn thứ thịt cá đàng hoàng, trên này chỉ có rau là rau. Chàng thèm một miếng thịt lắm. Cũng may là ở một khe đá có một dòng nước nhỏ xíu chảy nhỏ giọt, thứ nước ấy có vị hơi mặn để nấu lẫn rau, chứ chỉ ăn rau nhạt 10 ngày thì không ai chịu nổi. Mới mười ngày mà Vương đã gầy đi thấy rõ, da cũng xanh hẳn đi. Hôm đó Vương nói với nhà sư:
- Nay sức con đã khá, xin thầy mau chóng dạy dỗ!
Nhà sư gạt đi:
- Ngươi không chịu được khổ, muốn học qua quít để xuống núi sớm chứ gì? Ta không dạy cho ai thiếu kiên nhẫn đâu.
Vương không hỏi nữa. Ba tháng liền trôi qua vô sự, chàng Vương cũng đã quen, không còn thấy khó chịu với ăn rau suông và ngủ sương lạnh nữa.
Phần 3: Tu tập
Chàng Vương đã quen với cuộc sống trên núi, không còn thèm ăn thịt ngủ chăn đệm nữa. Nhưng chàng hậm hực suốt, từ khi chàng lên đây đã hơn 3 tháng mà nhà sư tiệt không nói gì đến chuyện học, không dạy cho chàng mảy may. Lúc đầu chàng còn nghĩ rằng nhà sư muốn rèn cho mình sức khỏe và chịu đựng gian khổ rồi mới dạy dỗ nên không thắc mắc mấy, nay chàng tự thấy mình đã đủ sức, ngày ngày vác vại chạy ra suối hứng nước lại vác về như không, trèo lên tận đỉnh núi tìm rau lạ rồi trèo xuống chẳng thở dốc, đêm lạnh sương gió vẫn ngủ ngon lành. Chàng thấy đã đến lúc nhà sư có thể dạy dỗ được rồi. Hôm đó ăn trưa xong, không để nhà sư kịp đi ngủ, chàng đã cầm sẵn hai thanh bảo kiếm, quỳ xuống dâng lên:
- Nay con thấy mình đã đủ sức, xin thầy nhận kiếm và dạy dỗ cho con.
Nhà sư lắc đầu:
- Không được, ta vẫn chưa nhận ngươi làm học trò được. Ngươi vẫn đang phải thử thách, nếu ngươi qua hết được thử thách thì ta mới dạy cho.
- Xin thầy cho biết con còn phải thử thách trong bao lâu nữa?
Nhà sư xòe bàn tay phải và giơ ngón tay trỏ của bàn tay trái lên. Vương thốt lên:
- Những sáu tháng cơ à!
Nhà sư lắc đầu:
- Không, sáu năm đó chứ!
Vương ngã ngửa ra. Sáu năm liền thử thách ư? Mà còn thử thách ta cái gì nữa? Ta chỉ muốn học ngay thôi. Vương hỏi tiếp:
- Con còn phải thử thách gì nữa?
- Sao ngươi vội vàng thế. Sự học chân chính đâu có thể nóng vội. Hay là ngươi có mục đích gì? Hãy nói cho ta ngay.
Vương kể lại câu chuyện đã khiến chàng cất công lên đây học tập. Kể xong chàng nói mạnh mẽ:
- Khi lên đây con đã thề rằng phải học vượt qua được hắn để trở về rửa nhục. Mà đã vượt qua được hắn thì con cũng là thiên hạ đệ nhất kiếm rồi.
Nhà sư cười:
- Ngươi không tính đến ta sao?
- Sư phụ tuy là bậc đệ nhất, nhưng thầy đã quy ẩn giang hồ 50 năm rồi, chắc cũng chẳng muốn tranh giành với ai.
Nhà sư nghiêm khắc nói:
- Vậy ra mục đích của ngươi là vậy. Ta không thể nhận ngươi làm học trò được.
Vương cãi:
- Tại sao lại không dạy cho con? Có phải thầy sợ con giỏi hơn thầy không? Nếu vậy thì thầy lên đây ở ẩn để làm gì!
- Ngươi sai rồi. Kẻ kia đánh bại ngươi, nhưng nếu ta dạy dỗ ngươi thì ngươi và hắn sẽ là huynh đệ đồng môn, lẽ nào ngươi giết đồng môn? lẽ nào ta là sư phụ mà lại để đồ đệ giết hại nhau thì còn đâu đạo lý! Nếu ngươi muốn trả thù hắn thì hãy đi tìm thầy khác, ta không thể dạy ngươi!
Vương giật mình. Nhà sư nói có lý khiến chàng thẫn thờ. Nhà sư để mặc chàng đó, leo lên phiến đá nằm ngủ. Chàng suy nghĩ.
- Phải rồi, thế thì ta với hắn lại là đồng môn, làm sao ta trả thù hắn mà lại không mang tiếng với thiên hạ được! Mà suy cho kỹ, cũng nhờ hắn mà ta mới tìm đến đây. Cái nhục trước đám thiên hạ kia là chuyện nhỏ, đã đến đây rồi phải làm sao học được tuyệt kỹ mới là chuyện quan trọng.
Nghĩ vậy, sự oán giận người kiếm sĩ kia đã vơi đi một nửa, chàng lay nhà sư dậy nói:
- Thưa thầy, con đã thấy là con sai. Cũng nhờ có hắn mà con mới đến đây, dù sao con và hắn cũng đã là đồng môn. Con sẽ không oán giận hắn nữa. Xin thầy nhận con làm đệ tử!
Nhà sư đáp:
- Lúc này nhất thời ngươi nghĩ ra được thế, nhưng ta sợ khi xuống núi ngươi nghe thiên hạ xì xào chuyện ngày xưa, lòng oán thù của ngươi lại trỗi dậy. Được, ta sẽ nhận ngươi làm đệ tử, nhưng thời gian thử thách của ngươi sẽ là 8 năm!
- Thưa thầy, tại sao lại phải thử thách dài như vậy? Chẳng lẽ phải đợi khi con có sức lật quả núi này thầy mới dạy hay sao?
- Thử sức là chuyện nhỏ, ta thấy ngươi mới 3 tháng mà sức đã khá rồi. Nhưng thử tâm mới là chuyện lớn. Kiếm thuật của ta là tuyệt đỉnh thiên hạ, nếu dạy cho kẻ ác tâm thì sẽ đại họa cho bách tính. Do đó mà ta phải thử thách tâm của ngươi. Đừng nói 6 năm là lâu, 60 năm mà ngươi chưa hết tà tâm thì ta cũng không dạy đâu.
- Vậy là nếu con không còn tâm ác nữa thì thầy sẽ dạy, thế nếu chỉ 3 năm mà con không còn ác nữa thì có cần thử thách con 5 năm nữa không?
Vị thầy gật đầu:
- khi nào tâm ngươi thuần thì ta sẽ dạy cho.
- Thưa thầy, tên học trò trước kia của thầy chắc cũng đã được thử thách tâm, thế sao khi giáp mặt với con hắn có vẻ ác vậy?
Nhà sư phá lên cười:
- Thật ra ta chưa từng dạy hắn tuyệt chiêu nào, ta biết hắn không tịnh tâm. Nhưng hắn cũng không phải là kẻ ác, ngươi nghĩ xem, hôm đó ngươi đã xúc phạm hắn trước, nếu hắn nổi giận lên thì ngươi đã thành ma không đầu rồi.
- Con không hiểu, thế thầy có dạy cho hắn gì không mà hắn nói rằng chỉ có thầy là địch được hắn?
- Chuyện là thế này. Ta mới chỉ dạy cho hai người, một người đến đây 30 năm trước, một người đến đây 10 năm trước, ngươi đã đấu với người thứ 2 đó.
Vương thưa:
- Con không hiểu, lúc nãy sư phụ bảo thầy chưa từng dạy cho hắn tuyệt chiêu nào, mà thầy lại vừa bảo thầy đã dạy hắn 10 năm trước?
Nhà sư nói:
- Ngươi hãy bớt hỏi đã để ta kể cho nghe.
Cách đây 30 năm có một người bị rắn cắn dưới chân núi, hôm đó ta cảm thấy có chuyện không hay xảy ra dưới đó nên đã xuống núi, do vậy cứu được hắn. Mấy ngày sau hắn khỏe lại, hắn muốn theo ta lên núi để chăm sóc ta hòng báo đáp ơn cứu sống. Ta không cần hắn trả ơn, nhưng hắn cứ theo ta lên đây. Ta thấy hắn là người sức yếu, không có tố chất nhưng thấy hắn là người thật thà trung nghĩa, nên cũng dạy dỗ hắn một vài thứ cho hắn tăng sức khỏe, dần dà hắn trở nên thành thục, nắm được hết đạo lý của ta, ta không còn gì mà truyền lại cho hắn nữa. Ta khuyên hắn không nên ở mãi trên này, hãy xuống kia mà giúp đỡ thiên hạ.
Mười năm trước, có một tên kiếm sĩ cũng tới đây tìm ta, cũng như ngươi, hắn muốn báo thù. Cả nhà hắn bị bọn tham quan hãm hại một cách thảm khốc, may hắn trốn thoát được nhưng bị lũ tay sai giang hồ lùng sục khắp nơi. Hắn lên đây muốn ta dạy kiếm thuật để trở về trả thù những kẻ hãm hại gia đình hắn. Ta từ chối không dạy, nhưng hắn rất quyết tâm, dù ta không dạy gì nhưng hắn vẫn ngày ngày luyện tập một mình mấy năm ròng. Ta thấy hắn cũng đáng thương nên dạy hắn vài thứ để hắn tự bảo vệ mình khỏi lũ giang hồ muốn truy sát hắn, còn các tuyệt kỹ thì tuyệt đối không dạy. Hắn xuống núi 5 năm trước, nhưng ta tin hắn sẽ còn quay lại đây.
Vương nghe hết những lời nhà sư nói. Chàng cảm thấy có thứ gì đó lớn hơn, quan trọng hơn việc báo thù. Ở nhà sư này còn có cái gì đó lớn hơn các tuyệt kỹ kiếm thuật. Chàng nghĩ, mình sẽ phải học cho hết.
Từ hôm đó chàng Vương chú tâm vào việc mình làm, không thắc mắc gì nữa. Chuyện với tên kiếm sĩ kia chàng cũng không còn lấy đó làm giận, đôi lúc chàng nghĩ đó là cái duyên đã đưa chàng đến đây. Hàng ngày vẫn đi lấy nước hái rau, nhưng giờ chàng đã quen, làm thoăn thoắt, thời gian thừa ra nhiều chàng đi xem cả ngọn núi, xem hòn đá này, khe nước nọ, hang đá, cây tùng. Nhà sư cũng không còn ngủ dài mỗi khi ăn cơm xong nữa, sáng sáng ông dậy sớm hơn, vui vẻ hơn. Một hôm ông nói với chàng:
- Con xem, sắp đến mùa đông rồi. Trên núi này mùa đông rất lạnh, ta hãy lo liệu từ bây giờ đi.
Chàng thưa:
- Mọi năm thầy thường trú qua mùa đông thế nào?
- Một mình ta thì không có vấn đề gì, ta chỉ cần vào một hang đá, ngồi kiết già trong đó, với một chút nấm và rau là qua được cả mùa đông. Nay thêm con nữa thì phải đi hái nấm, hái rau từ bây giờ mới đủ, mấy tháng nữa mùa đông đến cây cỏ trên này đóng băng hết chả còn gì đâu.
Chàng Vương vâng lời. Từ hồi lên núi đến nay, chàng đã biết được nhiều cây thuốc, cây nấm. Nhưng chàng vẫn nghĩ, với ít nấm này liệu có đủ cho cả hai thầy trò? Nếu trời đất bất thường, mùa đông kéo dài hơn một chút mà rau và nấm không đủ thì biết làm sao. Nhà sư đoán biết điều đó, bảo chàng:
- Cứ yên tâm mà đi hái nấm. Trời cho lạnh ắt cho ấm, cứ thuận theo trời là sống, không phải lo.
Chàng Vương chưa hiểu, nhưng cũng không hỏi nữa.
Hái nấm được một tháng trời. Núi này không có nhiều nấm, chàng đi tìm, đi hái nấm mất nhiều công sức. Có những cây nấm nằm cheo leo vách đá, có giỏ nấm thì nằm trên nhành cây chĩa ra vực. Có hôm chàng đành tặc lưỡi khi thấy một cây linh chi to hơn hai bàn tay nhưng lại mọc trên một khe đá dựng đứng không có lấy một chỗ để bám, chàng không sao với lên được. Chàng đang định bỏ đi, thì nhà sư ngăn lại. Ông nói:
- Hãy xem ta đây.
Nhà sư hít một hơn, rồi bất giác dang hai tay bám vào vách đá, như một con thạch sùng bò trên tường, ông nhẹ nhàng bò tới chỗ cây nấm rồi hái về. Vương tròn mắt kinh ngạc. Khi nhà sư đặt chân xuống đất, chàng quỳ xuống lạy:
- Thưa thầy, thật kinh ngạc. Làm sao thầy có thể trèo được ở một vách đá dựng đứng không hề có chỗ bám như thế? Con không thể tin được nơi mắt mình nhìn thấy.
Nhà sư cười đáp:
- Phải biết quên đi thân thể nặng nề này thì mới làm như thế được.
- Con không hiểu, thế nào là quên đi thân thể nặng nề của mình? Xin thầy chỉ bảo.
Nhà sư đáp:
- Trèo vách núi như vậy cũng không có gì là đáng học. Rồi ngươi sẽ được học thứ còn quan trọng hơn thế.
- Kỹ năng tuyệt diệu như vậy thầy còn cho là không đáng học, vậy hẳn thầy còn nhiều thứ tuyệt hơn thế nữa chăng?
Nhà sư cười:
- Đúng đó. Leo được như thế đã coi là giỏi, nhưng ta có cách này còn hay hơn: Con đi tìm một cây sào dài là cũng hái được cây nấm một cách dễ dàng hơn cả ta.
Chàng Vương lắc đầu:
- Thầy nói vậy sao được, lấy cây sào hái nấm thì ai cũng làm được, còn leo được như thầy thì con mới thấy thầy làm được.
- Con thử nghĩ xem, con chỉ cần một ngày đi trong núi là kiếm được một cây sào, còn ta để leo được như vậy đã phải khổ công luyện tập 5 năm trời, mà cuối cùng cũng chỉ hái được cây nấm. Vậy tại sao lại mất nhiều công sức làm gì?
Chàng nói:
- Nhưng làm được như vậy thì ta còn có thể làm được nhiều điều khác hay hơn là hái nấm....
Chàng chưa nói hết câu, nhà sư đã gạt đi:
- Ấy vậy nên nó mới không đáng để luyện tập. Ngươi nghĩ xem, nếu kẻ có lòng tham mà học được chiêu này, hắn sẽ trèo tường như đi trên đất, ăn trộm dễ như đi chơi. Kẻ có ác tâm mà học được chiêu này thì tai họa biết đâu mà lường. Dù người không ác mà học được chiêu này, thì với khả năng đặc biệt ấy lòng tham cũng dễ nổi lên. Do vậy mà tuy ta biết được chiêu này đã lâu nhưng ta chỉ dùng nó để hái nấm mà thôi.
Chàng Vương nghe vậy, bụng vẫn muốn học mà lại thôi không dám hỏi nữa. Nhưng mỗi lúc rỗi rãi, chàng lại ra chỗ vách đá này, thử áp người vào vách bò lên như thầy, nhưng mãi không thể được. "Phải quên đi thân xác nặng nề này", nhà sư nói thế, nhưng cứ mỗi lúc áp người vào vách đá là chàng lại nghĩ ngay đến thân xác nặng nề của chàng, lại nghĩ làm sao để quên đi được. Cuối cùng thì chàng cũng đành bỏ vách đá đó.
Tuyết bắt đầu rơi trên chiếc lều lá, hai thầy trò chuyển vào trong hang núi, ngoài cửa hang chất đầy cỏ khô, trong hang hai thầy trò cũng trải cỏ khô lấy chỗ nằm. Chàng để ý thấy nhà sư không bao giờ nằm, chỉ ngồi kiết già yên lặng suốt đêm, có hôm nhà sư ngồi như vậy đến tận trưa hôm sau làm chàng lo lắng. Nhà sư chỉ rời chỗ một lúc để ăn một ít nấm, rồi lại ngồi như vậy. Chàng Vương ăn khỏe, chỉ lo đến chuyện không còn nấm để ăn, nhưng nhà sư mỗi ngày chỉ ăn một cây nấm hương bé như ngón chân cái. Chàng lấy thế làm kỳ lạ, xưa kia chàng có nghe nói đến các vị chân nhân trên núi cao chỉ cần ăn sương tuyết, ngao du cùng mây gió nhưng chàng không tin. Nay ngay trước mặt chàng có một người kỳ lạ, chàng có phần tin, lại còn nghĩ nhà sư này còn giỏi nhiều thứ nữa.
Một hôm, nhà sư xuất định, ngồi bình thường, gọi chàng lại bảo:
- Hôm nay ta sẽ dạy cho con phép này. Đây là phép để di dưỡng tinh thần, an định thân thể, trước thì để giúp mình an trú suốt mùa đông, sau thì giúp ích cho mình cả đời không biết đâu mà kể.
Chàng háo hức, nhưng im lặng nghe thầy. Nhà sư nói tiếp:
- Phép này đơn giản là ngồi bắt chéo chân nọ lên chân kia, lưng thẳng mà hít vào thở ra. Mới tập thì chỉ ngồi được một khắc, tập nhiều thì ngồi bao lâu cũng được. Mới tập thì hơi thở chỉ sâu đến cổ họng, thành thục rồi thì hơi thở sâu đến gót chân. Tập sơ sơ thì điều hòa được thân thể, tập thành thục rồi thì thu được chân khí của đất trời. Ta nhờ thu được chân khí của đất trời mà chẳng cần ăn nhiều vẫn sống khỏe mạnh suốt mùa đông, bao nhiêu năm không hề bệnh tật. Phép này đơn giản là hít vào thở ra, nhưng sự thần diệu của nó thì thật vô cùng.
Nói rồi nhà sư lại ngồi kiết già, bảo chàng hãy ngồi theo như thế. Chàng hý hửng vội xếp chân chéo nhau. Nhà sư nhắc: Hít vào, chàng chậm rãi hít vào. Nhà sư nói: Thở ra, chàng từ từ thở ra...
Chà, phép lạ chỉ đơn giản vậy thôi sao? Chàng ngồi ngoan ngoãn hít thở theo lời nhắc của nhà sư, nhưng ngồi được một lúc thì thấy nghi ngờ. Làm sao chỉ hít thở mà lại thần diệu như nhà sư đã nói được? Chàng nghĩ ngợi, và thở vào thở ra không đúng nhịp của nhà sư nữa. Nhà sư kiếm đâu ra một cái roi, quất lên đầu chàng một cái làm chàng đau điếng. Ông quát:
- Nhắm mắt lại, hãy thở cho đúng nhịp, chớ có nghĩ ngợi vẩn vơ.
Chàng vội nhắm mắt, lại bắt đầu thở theo nhịp nhà sư nói. Được một lúc, lưng mỏi nhừ, chàng hơi còng lưng xuống. Nhà sư lấy roi quất lên lưng chàng, quát:
- Ngồi thẳng lưng lên, không được làm biếng!
Chàng lại cố giữ thẳng lưng. Một lúc nữa thì hai chân tê buốt, chàng thấy trong người khó chịu vô cùng, hơi thở bắt đầu loạn lên. Nhà sư nói:
- Đủ rồi, hãy duỗi chân ra.
Chàng nghe theo, duỗi chân ra xoa bóp một lúc, rồi nằm kềnh ra cho đỡ mỏi lưng. Mới được một lúc, nhà sư lại bắt dậy, ngồi kiết già tiếp. Chàng đành ngồi dậy. Xưa kia luyện kiếm cũng vất vả nghiêm khắc, nên chàng cũng biết rõ để học được cái gì đó thì vất vả như thế nào, nay lại thấy tận mắt nhà sư làm được điều kỳ diệu nên chàng không phản ứng gì cả, thầy dạy thế nào thì tập theo thế ấy. Chỉ ngồi yên và hít thở mà cũng khó khăn quá chừng, một lúc lại đau chân mỏi lưng, hoặc thở sai nhịp thầy hô, hoặc buồn ngủ, hoặc nghĩ ngợi vẩn vơ. Mỗi lần thấy chàng thở sai nhịp, nhà sư lại lấy roi quất lên đầu chàng, chàng vội tập trung trở lại. Khi chàng mỏi lưng cựa quậy nhà sư lại lấy roi quất vào lưng, chàng lại phải ngồi thẳng lên. Đến khi quá mỏi thì mới được thầy cho duỗi chân nghỉ ngơi....
Cứ tập như vậy, chàng không còn biết bên ngoài thời gian đã trôi qua bao lâu. Chàng đã ngồi được cả ngày mà không thấy mỏi, không cần thầy dùng roi nhắc nhở nữa. Mùa đông đã trôi qua khi nào. Một hôm nhà sư nhắc:
- Mùa đông đã qua rồi đó, con xem ta vẫn còn nhiều nấm và rau này.
Chàng ngồi duỗi chân ra bình thường, thốt lên:
- Thật là kỳ diệu! Giờ con có thể ngồi lâu như vậy mà không thấy khó chịu gì, thậm chí còn thấy dễ chịu.
Nhà sư cười đáp:
- Con học nhanh đó. Nhưng đó mới chỉ là tập sơ sơ, thành công bước đầu thôi, nhưng còn lâu nữa con mới tới được chỗ thần diệu của phép ngồi hít thở đó. Nay đã qua mùa đông, nhưng từ nay con phải luyện tập nó mỗi ngày cho đến khi thật thành thục.
Mùa xuân đến, tuyết trên núi tan chảy thành những dòng suối lớn. Một hôm nhà sư gọi chàng Vương đến một con suối do tuyết tan chảy, ông bảo chàng cởi áo ra. Tiết trời còn khá lạnh nhưng vẫn còn dễ chịu, nước suối do băng tuyết tan thì vẫn lạnh buốt. Nhà sư cũng cởi áo, rồi nhẹ nhàng bước xuống con suối, ngồi kiết già chỗ sâu nhất, nước ngập lên đến tận cổ. Ông gọi chàng Vương hãy xuống ngồi như ông. Chàng Vương thấy nước lạnh còn ngần ngại, nhưng chàng đã có niềm tin lớn nơi thầy, chàng nghĩ nếu thầy muốn mình làm thì chắc chắn thầy biết mình làm được. Chàng rón rén đặt chân trần xuống dòng nước. Chà, nước lạnh cóng, chàng vội rụt chân ngay lại. Nhưng nhà sư đã gọi:
- Đừng sợ, hãy xuống đi.
Chàng cho hẳn một chân xuống nước, bàn chân co quắp lại, chàng loạng choạng ngã nhào xuống luôn. Chàng vội chạy lên bờ, tay nọ ôm vai kia, suýt xoa:
- Thưa thầy, con chưa thể xuống nước lạnh ngay như thầy được. Thầy có cách nào giúp con dễ dàng hơn không?
Nhà sư ngồi im lặng không nói nữa, mắt ông nhắm lại. Chàng hiểu là mình phải xuống ngồi được dưới đó. Lần này chàng hết sức trấn tĩnh, không để giật mình như hai lần trước nữa. Chàng cố gắng ngồi xuống yên lặng, nhưng mặt chàng nhăn nhó vì rét buốt. Nhà sư vẫn nhắm mắt, cất tiếng nói:
- Đừng làm ra vẻ khó chịu, hãy cứ thả lỏng đi. Không được thở bừa như vậy, phải thở cho đúng nhịp, rồi cái lạnh sẽ hết.
Vương thưa:
- Thưa thầy tập thế này để làm gì?
- Trời có nóng có lạnh, hết nóng rồi thì phải lạnh, lạnh rồi thì phải nóng. Người cũng như trời, có phải chịu lạnh như vậy thì lửa tam muội trong cơ thể mới sinh ra. Khi lửa tam muội đã cháy lên rồi thì không lo gì trời bên ngoài lạnh nữa.
- Lửa tam muội ấy là gì?
- Lửa tam muội ấy gốc là ở thận, khi sinh ra thì theo mạch Đốc mà chạy lên đầu, lại theo mạch Nhâm mà vòng ra trước người, tụ lại nơi Đan Điền. Từ Đan Điền dùng tâm điều lửa ấy đi khắp cơ thể.
- Nếu vậy thì sao lại có nhiều người bị chết cóng? Họ không sinh được lửa tam muội chăng?
- Vì khi người ta bị lạnh người ta chỉ nghĩ đến sưởi ấm bên ngoài mà không biết đến đốt lửa bên trong cơ thể. Và để đốt lên lửa tam muội thì phải tĩnh tâm, người thường khi bị rét thì lo lắng sợ hãi, tâm thần cuống cuồng hoảng loạn không làm sao tĩnh tâm điều khí được, vậy làm sao khiến lửa tam muội sinh ra? Thôi không hỏi nữa, hãy giãn khuôn mặt ra và chú tâm vào hơi thở của ngươi đi.
Vương cố gắng giãn khuôn mặt ra, quên đi cái rét cắt da cắt thịt mà hít thở cho đều cho sâu. Chàng nén khí thật mạnh vào trong bụng, cơ bụng căng cứng lên, cố gắng tưởng tượng đưa luồng khí nóng trong bụng đến chân tay, theo phép vận khí ngày xưa chàng được học khi học kiếm. Vốn là nếu chỉ dùng sức tay mà cầm kiếm để chém thì không được mạnh, muốn chém thật mạnh phải hít khí nén đầy Đan Điền, rồi vận khí lên tay cầm kiếm. Khi vận khí như vậy thì cả Đan Điền lẫn mặt đều nóng lên. Chàng Vương không chịu được lạnh, cố gắng làm như vậy để giữ ấm. Chàng nén khí, vận khí quá mạnh, được một lúc thì thở hổn hển, mặt đỏ gay dù chân tay dần tím ngắt. Nhà sư nghe thấy chàng thở không còn đều, vội quát:
- Dừng lại ngay, ngươi đã trái lời ta dạy!
Mặt chàng bỗng chuyển sang tái mét, chân tay co quắp hết lại. Nhà sư vội xuất thiền, kéo chàng lên bờ, lấy quần áo khô của mình lau sạch nước trên người chàng Vương rồi mặc quần áo của chàng lại cho chàng. Chân tay chàng Vương co quắp không thể nào duỗi ra được, mãi nhà sư mới mặc cho chàng quần áo được. Chàng không đứng nổi, nhà sư đành kéo chàng ra chỗ khô ráo, tìm cây cỏ đốt một đống lửa cho chàng sưởi. Chàng Vương cứ rên hừ hừ. Nhà sư nói:
- Ngươi đã làm không đúng lời ta, vì sốt ruột mà ngươi đã vận khí sai lầm , làm tổn thương chân khí, kinh mạch rối loạn. Cái thứ khí nóng sinh ra trong bụng ấy là do đốt tinh thành khí, không phải là lửa tam muội, ngươi đốt quá mạnh khiến cho tinh khí bị tổn thương. Da thịt thì lạnh ngắt mà vẫn phải đốt nóng lên một cách từ từ, không thể vội vàng. Ngoài lạnh như cắt mà trong đốt nóng lên đột ngột, chỉ làm hại thân mà thôi.
Sau buổi đó, chàng Vương cảm lạnh mấy hôm liền, chỉ nằm được co quắp một chỗ cạnh đống lửa, hàng ngày nhà sư phải đi hái thêm rau thêm thuốc để giúp chàng bồi bổ lại chân khí. Mấy hôm sau chàng đã đứng lên đi lại được, nhưng sức đã yếu đi nhiều.
- Kẻ luyện võ mà không biết vận khí đúng đắn, dễ bị tẩu hỏa nhập ma, tàn hại cơ thể, kinh mạch rối loạn, võ công do đó mà bị phế suốt đời. Kể từ nay ngươi phải tuyệt đối nghe lời ta, không được vội vàng, không được tự ý kẻo tự mang họa vào thân.
Chàng Vương vâng lời. Một tháng liền sau đó chàng chỉ ngồi một chỗ, hít thở cho đều cho sâu để điều hòa lại cơ thể, mãi cơ thể chàng mới trở lại bình thường. Nhưng cứ thấy nước là chàng sợ. Trong thời gian đó, nhà sư ngày nào cũng vẫn ra ngồi kiết già dưới nước hàng giờ liền.
Trời đã ấm lên nhưng chàng Vương vẫn còn hay rùng mình. Nhà sư hàng ngày đều giục chàng xuống nước tắm rửa, mà chàng cảm thấy sợ nước, cứ thấy nước là co hết người lại.
- Ngươi là kẻ hèn nhát. Mới bị lạnh một lần mà định không tắm cả đời sao?
Chàng Vương không trả lời. Bản thân chàng cũng muốn luyện tập được như nhà sư, nhưng cứ mỗi lần đến bờ suối là cảm giác hãi hùng buổi đó lại trở lại. Nhà sư bỏ mặc chàng, chẳng đả động gì đến nữa. Mấy hôm sau, chàng Vương đang ngủ thì bị nhà sư trói hai tay chàng lại đằng sau lưng, lại trói cả hai chân, kéo chàng ra bờ suối, lại buộc một sợi dây một đầu vào hai chân chàng, đầu kia buộc vào một gốc cây, rồi bỏ đi. Chàng Vương bị trói tay phía sau lưng không sao xoay sở được, dù sợi dây buộc vào gốc cây cũng khá dài. Nhà sư bỏ đi rồi, có kêu gào gì cũng vô ích, hơn nữa trong thâm tâm con nhà võ chàng không hề có ý nghĩ kêu gào hay than thở. Chàng nghĩ, mình cứ ngồi vậy thôi cho đỡ mệt, nhà sư cũng không thể bỏ mình mãi thế này được. Nhưng cả ngày chẳng thấy nhà sư đâu, chàng khát nước khô cả cổ. Chàng ngồi ngay gần bờ suối, sợi dây trói chàng đủ dài để chàng ra bờ suối uống nước. Cuối cùng không làm sao được nữa, chàng vặn vẹo như con lươn, trườn ra bờ suối. Lần này không có bát hay tô để uống nước mà phải vục cả mặt xuống nước mà uống. Nước suối chảy ào qua mặt chàng, ướt hết tóc tai chàng. Chàng giật mình, cảm giác sợ nước lại trở lại, nhưng đầu chàng đã ướt hết cả rồi. Bỗng nhiên chàng trườn hẳn lên bờ, cười ha hả. Chẳng biết nhà sư từ chỗ nào, đột ngột xuất hiện, hỏi to:
- Ngươi cười cái gì? Nói cho ta biết!
Chàng xoay lưng ra phía nhà sư, ra hiệu nhà sư cởi trói cho chàng. Nhà sư đi thẳng đến, cởi trói cả chân tay cho Vương. Vừa được cởi trói xong, chàng Vương nhảy ào xuống suối, cười ha hả. Nhà sư trên bờ cũng cười hả hê. Vậy là chàng Vương đã hết sợ nước.
Hôm sau chàng theo nhà sư ra suối. Tuyết đã tan hết từ lâu, nước suối nông và không còn lạnh, chàng dễ dàng ngồi kiết già trong nước và giữ được hơi thở đều. Đến khi lên bờ, nhà sư hỏi:
- Hãy nói ta biết tại sao người sợ nước suốt cả tháng trời?
- Vì con sợ nước lạnh.
- Nước lạnh ở đâu?
- Dạ thưa nước lạnh dưới suối.
- Thế nước lạnh đó đã chạm vào da thịt ngươi chưa?
- Dạ chưa, con chỉ nhìn thấy nước suối là con đã sợ.
- Vậy nói lại cho ta biết, cái lạnh đó ở đâu?
- Thưa ở trong nước suối tuyết vừa tan.
Nhà sư lấy roi quất vào đầu chàng Vương, quát to:
- Nước lạnh không ở dưới suối, nước lạnh là ở tâm nhà ngươi thôi!
Chàng Vương hơi giật mình vì bị thầy quát, nhưng bất chợt lại cười ha hả:
- Thầy nói đúng! Tại con sợ nước lạnh nên chưa xuống suối chỉ cần nhìn thấy nước suối là đã ớn run người.
Rồi chuyện chàng Vương tu tập ra sao trong suốt ba năm tiếp theo thì không ai biết rõ. Chỉ nghe người sau kể rằng trong suốt ba năm đó, hai thầy trò ít gặp mặt nhau, chàng Vương thường lên đỉnh núi ngồi thiền, có lúc lại ngồi dưới suối, mùa đông hai thầy trò lại vào ngồi thiền trong hang. Ba năm ấy nhà sư đã dạy cho chàng Vương những gì thì không ai rõ cả.
Vậy là đã 4 năm từ khi chàng Vương lên núi. Suốt 4 năm đó chàng không động tay múa kiếm, chàng đã quên luôn việc giục nhà sư dạy kiếm cho mình. Chàng cũng không còn nghĩ đến thời gian thử thách của nhà sư là bao lâu nữa, hàng ngày chỉ ngồi kiết già, tĩnh lặng không suy nghĩ. Chuyện xuống núi chàng cũng quên, tên kiếm sĩ ngày nào chàng cũng không còn giận. Bỗng một hôm khi chàng mở mắt xuất thiền thì thấy nhà sư ngồi ngay trước mặt. Chàng cúi lạy. Nhà sư nói:
- Con có thể học kiếm rồi đó!
Chàng vẫn tĩnh lặng như không, cúi lạy thầy một lần nữa. Nhà sư đứng dậy, chàng cũng đứng dậy đi theo. Xuống đến chỗ bằng phẳng chàng đã dựng lều lá năm nào, nhà sư ngồi xuống im lặng. Chàng Vương tìm lại hai thanh kiếm báu đã cất kỹ trong một khe đá, hai thanh kiếm vẫn sáng ngời không hề hoen gỉ. Chàng trịnh trọng quỳ xuống, hai tay nâng một thanh kiếm lên trước mặt thầy. Nhà sư ra hiệu cho chàng ngồi bình thường. Ông trịnh trọng nói:
- Con đã qua được thử thách. Chỉ khi con không còn nghĩ đến chuyện báo thù, nổi danh, không còn ý định học kiếm, ấy mới là lúc con có thể học được tuyệt kỹ. Phép dụng kiếm của ta là không vướng mắc vào kiếm, nếu tâm còn nghĩ đến kiếm thì không sao dụng kiếm cho giỏi được.
Chàng Vương lĩnh hội ngay. Chàng đã tập thiền ba năm, giữ tâm hư tĩnh không nghĩ ngợi gì cả, nay thầy nêu chuyện học kiếm thì chàng cũng học, chỉ để học mà không còn những mục đích trước kia nữa. Nhà sư nói tiếp:
- Nếu dụng kiếm mà cái tâm không hư tĩnh thì không sao đạt được đến chỗ cao nhất của kiếm thuật. Bởi lẽ, tâm không hư tĩnh thì khi đấu kiếm dễ nổi lên giận dữ, sợ hãi, những thứ ấy đều làm mình mất tự chủ. Hoặc tâm không hư tĩnh, chỉ nghĩ đến việc tìm đường kiếm sơ hở của đối phương, hoặc chỉ nghĩ đến chuyện đánh trúng đối phương, hoặc nghĩ đến phải dùng miếng đánh nào, đều làm cho mình chậm chạp. Vậy nên, để đạt được chỗ cao nhất của thuật dụng kiếm thì trong tâm phải không còn có kiếm nữa.
Chàng Vương lạy tạ. Nhà sư nói tiếp:
- Hôm nay chỉ học bấy nhiêu thôi. Đêm nay con hãy nghiền ngẫm lại điều ta vừa nói.
Phần 4: Học kiếm
Lại nói chuyện chàng Vương, sau 4 năm đã được nhà sư truyền dạy kiếm thuật. Lúc này chàng đã không còn bận tâm gì đến chuyện học kiếm nữa, chuyện trả thù chàng đã quên từ lâu. Chàng im lặng, làm theo những điều nhà sư nói, không thắc mắc cũng không phản kháng. Đã 4 năm không cầm đến kiếm, nay tay chàng có phần gượng gạo, không còn nhanh nhẹn, tinh tế như trước, nhưng chàng không lấy đó làm bận tâm. Nhà sư thì không hề cầm đến kiếm, ông chỉ nói chứ không múa kiếm, không cầm kiếm chỉ dạy bao giờ. Chàng Vương dâng bảo kiếm lên thầy mấy lần nữa, nhà sư đều gật gù rồi lại để chàng cất đi, mà không nhận. Có hôm chàng Vương hỏi:
- Thầy đã nhận con làm đồ đệ, đã muốn truyền dạy kiếm thuật cho con, vậy xin thầy hãy nhận kiếm cho trọn đạo thầy trò. Và còn tiện để dạy dỗ con hơn là dạy bằng tay không.
Nhà sư đáp:
- Ta đã từng nói là hơn 50 năm nay ta không động đến kiếm, hôm nọ ta chẳng bảo con là phép dụng kiếm của ta không còn vướng mắc vào kiếm nữa ư?
Chàng Vương hỏi:
- Xin thầy cho con được biết vì sao thầy đã quyết về ở ẩn, rửa tay không đụng đến kiếm hơn 50 năm trước? Cao thủ trên đời thật không dễ có người như thầy.
Nhà sư đáp:
- Thứ kiếm ấy là kiếm của người thường, kiếm thuật ấy cũng là kiếm thuật của người thường. Thứ kiếm dùng để chém người, đâm người, để tranh đua địa vị danh lợi, để khiến thiên hạ khiếp sợ nể phục không phải là kiếm của bậc đại trượng phu. Trước đây ta cũng chìm đắm trong ganh đua, danh lợi, kiếm trong tay ta đã giết không biết bao nhiêu người. Tuy giang hồ đều nể sợ ta, nhưng ta cũng nơm nớp lo sợ, đêm ngày không yên. Gây oán tất bị báo oán, lấy mạng thì phải đền mạng, dù ta có là cao thủ lúc này thì lúc khác cũng có cao thủ khác, đến lúc đó thì ta cũng sẽ phải trả nghiệp. Ngẫm như vậy nên ta chán kiếp cầm kiếm lang thang, đâm chém tranh giành với thiên hạ, mang tâm sám hối mà giải quyết chuyện thù hằn. Không phải ai cũng chịu giàn hòa với ta, nhưng họ cũng không làm gì được ta. Ta cũng không phải vì sợ họ trả thù mà trốn lên núi này. Chỉ vì thấy chán ngán trước cảnh tranh đua, thù này lại sinh oán khác, oán thù cứ chồng chất như núi mà không sao hết được. Kiếm thuật người thường chỉ gây thêm oán thù mà không thể làm vơi đi, nên không phải là thứ mà bậc đại trượng phu thích. Ta băn khoăn tự hỏi, có thứ kiếm nào, có thứ thuật nào mà khiến thiên hạ không còn thù oán, không còn chém giết nhau, không phải tranh giành lẫn nhau. Ta gặp một nhà sư, ông ấy nói cho ta nghe về lòng từ bi, ta đã như người say tỉnh mộng. Ta tìm lên núi này để trai giới, tu tâm, dù chưa một ngày qui y, chưa bao giờ tụng kinh nhưng cũng tự coi như mình đã thuộc về nơi cửa Phật. Và khi từ bỏ thứ kiếm thuật của người thường, thì ta đã đắc được thứ kiếm thuật vô thượng, chính là thứ mà ta dạy ngươi đây. 4 năm qua là để ngươi từ bỏ kiếm và kiếm thuật của người thường đi, nếu còn vương vấn thì ngươi không sao học được thứ kiếm thuật vô thượng này. Kiếm thuật vô thượng của ta không cần dùng kiếm, nhưng ngươi hãy cứ tạm dùng thanh kiếm của ngươi đi, coi đó là phương tiện, đến khi ngươi đắc được kiếm thuật vô thượng của ta thì hãy bỏ nó đi.
Chàng Vương cúi lạy. Thứ kiếm thuật vô thượng ấy là gì? không phải là thứ chàng múa hàng ngày, và cũng không phải để tranh giành, hơn thua với người đời. Chàng chắc mẩm như vậy. Thế thì liên quan gì đến thanh kiếm này, sao ta lại phải dùng nó? Nó làm phương tiện như thế nào đây?
Chàng tự hỏi nhiều câu nhưng không biết trả lời thế nào. Nhà sư nói:
- Ta biết con có nhiều thắc mắc, mà con sẽ phải tự giải đáp lấy. Khi nào con có thể giải đáp được hết thì ta cũng không còn gì dạy con nữa, con có thể xuống núi như đại sư huynh của con 30 năm trước.
Nhà sư không hề chỉ cho chàng phải múa kiếm như thế nào, phải đâm như thế nào, chém ra sao... Mỗi khi chàng cầm kiếm lên để múa, ông chỉ nói: Hãy buông thanh kiếm trong đầu con ra. Chàng không hiểu thế có nghĩa là gì, nhưng khi nào chàng hỏi nhà sư cũng chỉ nhận được câu trả lời: Tự con phải giải đáp lấy. Ông quan sát chàng mỗi khi chàng múa kiếm. Chàng múa không được nhanh nhẹn chính xác như hồi còn chưa lên núi, có lúc chàng cố múa tít lên thì bị nhà sư quát dừng lại, ông lấy roi đánh mạnh vào tay chàng. Ông quát to:
- Tại sao ngươi phải nghĩ đến chuyện múa kiếm nhanh hơn!
Chàng Vương lại múa tiếp, vừa múa vừa nghĩ, hay là phải múa chậm, như người ta tập Thái Cực Quyền? Chàng lại múa chậm lại. Nhà sư quát to, lấy roi đánh vào đầu chàng:
- Ta bảo ngươi phải buông thanh kiếm trong đầu ngươi đi, mà sao người không chịu buông?
Chàng chợt quẳng thanh kiếm ra, sụp xuống lạy:
- Thưa sư phụ con hiểu ra rồi!
- Hiểu rồi thì hãy múa kiếm cho ta xem!
Chàng nhặt thanh kiếm lên, múa một hồi, động tác thanh thoát uyển chuyển kỳ lạ. Một hồi chàng dừng lại, nhà sư hỏi:
- Ngươi vừa múa cái gì vậy? Múa lại cho ta xem.
Chàng lại múa một hồi nữa, lần này loạn xạ không giống như lần trước. Khi chàng dừng lại, nhà sư lại hỏi:
- Ngươi múa cái gì vậy? Tại sao hai lần mà ngươi múa khác nhau, lần đầu thì thanh thoát mềm mại, lần sau thì như gà vịt chạy rông thế?
Chàng thưa:
- Con có biết gì đâu. Lúc đó tay con tự nhiên múa, thân con tự chuyển động mà thành bài, con có nghĩ gì, nhớ gì đâu.
Nhà sư gật đầu đáp:
- Vậy là ngươi đã thật sự biết bỏ kiếm ra khỏi đầu rồi.
Hai thầy trò cùng cười ha hả. Từ hôm đó trước khi cầm kiếm chàng đều ngồi thiền cho đầu óc hoàn toàn tĩnh lặng, không nghĩ gì đến kiếm nữa, không còn nghĩ mình phải múa nhanh múa chậm, sang phải sang trái thế nào nữa, lúc đó chàng mới đứng dậy cầm thanh kiếm, và múa. Có lúc thì nhanh nhẹn đẹp mắt như rồng bay phượng múa, có lúc thì loạn xạ như tổ ong bị hun khói, có lúc thì vun vút như mưa như gió, có lúc lại chậm chạp như bướm thong thả lượn cành hoa, không lần nào giống lần nào. Khi mỏi mệt thì nghỉ, khi múa thì say mê đến mức thầy đến, thầy gọi cũng không biết. Nhà sư hài lòng.
Một hôm, nhà sư đến khi chàng đang múa kiếm, ông im lặng đợi chàng ngừng lại. Chàng cứ múa mãi. Đến chiều tối vẫn chưa dừng lại, nhà sư vẫn im lặng đứng nhìn. Trăng lên sáng cả ngọn núi, nhiều phiến đá nhọn hoắt in bóng xuống khoảng sân bằng phẳng chỗ chàng đang múa. Những tảng đá không có rêu bàm, không có cây phủ thì sáng lên loang loáng, những chỗ nhiều cây cối thì âm u, tối tăm. Hai cảnh tương phản đến rợn người dưới ánh trăng. Chàng vẫn múa. Nhà sư vẫn đợi. Hai người như say sưa, cùng hòa vào nhau, hòa lẫn lưỡi kiếm loang loáng, hòa lẫn núi rừng thăm thẳm, hòa lẫn ánh trăng bạc như ánh thép, tất cả cùng hòa vào nhau thành một điệu múa.
Đến sáng, chàng Vương dừng lại, đến chỗ nhà sư quỳ xuống lạy:
- Lạy thầy, con có thấy thầy đến, thầy chờ, nhưng con không ngừng lại được.
Nhà sư nói:
- Con đã gạt được kiếm ra khỏi đầu rồi. Nhưng con lại trở thành kẻ mê ngủ.
Chàng thưa:
- Sao thầy lại nói như vậy? Con đã tập luyện ngày đêm, có bao giờ nghĩ đến mệt nhọc đâu.
Nhà sư đáp:
- Con chưa hiểu ra. Nhưng con phải tự hiểu lấy điều ta nói.
Nhà sư rũ áo ra về. Chàng Vương đứng ngẩn ngơ một hồi lâu.
Chàng Vương chẳng hiểu nhà sư nói thế là sao.Mấy hôm rồi chàng không múa kiếm gì nữa, cứ ngồi trên một tảng đá mà suy nghĩ, nghĩ chán mà chẳng ra. Chợt thấy đau điếng nơi vai, quay lại thì thấy nhà sư đang cầm roi. Chàng chưa kịp nói gì thì nhà sư đã mắng:
- Ngươi đúng là kẻ mê ngủ, không sao học được. Lúc nào ta cũng thấy ngươi ngủ gật là sao?
Chàng Vương thưa:
- Con đang tỉnh táo đó chứ, sao thầy nói vậy?
Nhà sư cầm roi gõ lên đầu chàng cái nữa, nói:
- Tỉnh táo thì sao không biết ta đến?
- Thầy đến sau lưng con, làm sao con biết?
Nhà sư lại gõ lên đầu chàng cái nữa:
- Nói bậy bạ. Ngươi là kẻ học võ đã lâu mà lẽ nào không biết, nếu có kẻ đâm lén sau lưng ngươi thì ngươi chỉ biết đổ lỗi cho hắn đâm lén hay sao?
Chàng Vương lạy:
- Dạ thưa sư phụ, con đã hiểu tại sao thầy nói con ngủ gật rồi!
Chàng Vương lại luyện múa kiếm trở lại, vừa múa vừa cố gắng để ý xung quanh. Nhưng hễ để ý đến cái khác thì chàng lại múa sai động tác. Nhưng luyện mãi cũng thành nhuyễn, có lúc chàng vừa múa kiếm vừa nghe chim hót. Một hôm chàng đang múa kiếm say xưa thì nhà sư đến, chàng biết nhưng cứ múa tiếp không chào. Nhà sư bình thản ngồi một lúc, rồi khẽ đọc mấy câu thơ. Chàng Vương vẫn mải mê đâm phải, chém trái. Một hồi sau chàng mới nghỉ, ra vái sư phụ:
- Con đã biết thầy đến, nhưng phải đi cho hết bài nên chưa ra vái thầy ngay được, xin thầy bỏ qua.
Nhà sư hỏi:
- Ngươi không ngủ đó chứ?
Chàng Vương đọc lại mấy câu thơ nhà sư đọc lúc nãy, không sai một chữ. Nhà sư mỉm cười gật đầu.
- Bây giờ con có thể múa kiếm trên vách đá trơn, trên cành cây, trên bờ vực, hay bất cứ đâu được rồi đó, vì con đã nhận biết được xung quanh. Ta gọi đó mới là tỉnh táo, chứ nếu múa kiếm mà chỉ biết mỗi đến múa kiếm thôi thì vẫn mà mê ngủ. Giờ ta không còn gì dạy con nữa, con hãy tự luyện tập cho thành thạo, đừng bao giờ buông thả, hãy luôn luôn tỉnh táo. Khi nào con thấy đủ rồi thì có thể xuống núi lúc nào tùy ý.
Chàng hơi ngạc nhiên:
- Sư phụ chưa dạy cho con một chiêu nào mà đã nói là không còn gì để dạy hay sao? Phải chăng thầy chưa tin tưởng con nên không muốn dạy tuyệt kỹ?
Nhà sư đáp:
- Mọi tuyệt kỹ đều nằm trong hai từ: "buông bỏ" và "tỉnh thức", ta đã dạy con cả rồi, con cũng đã bắt đầu nắm được rồi, giờ chỉ việc luyện cho thành thạo thôi. Như việc ta trèo vách đá dựng đứng khi xưa, ta biết con vẫn thắc mắc thế nào là quên thân thể nặng nề đi, nay con đã biết cách để quên thanh kiếm rồi, thì rồi sẽ tự biết cách mà quên thân thể. Khi nào định xuống núi thì hãy qua gặp ta.
Từ hôm đó nhà sư lại một mình lấy nước, hái rau như xưa, chàng Vương thì nay đây mai đó, khi thì luyện kiếm trên bờ vực, khi thì trên đỉnh núi, khi thì trong khe nước, không mấy khi họ gặp nhau... Tới một hôm, chàng tìm đến nhà sư, tay cầm cả hai thanh kiếm. Mới đó đã sáu năm trời, chàng nghĩ đã đến lúc mình xuống núi. Chàng đưa hai thanh kiếm lên ngang mặt, quỳ xuống trước nhà sư, nói:
- Ơn thầy dậy dỗ bao năm qua không sao kể xiết, nay con xin được từ biệt thầy để xuống núi. Con xa nhà đã lâu, không biết mẹ già giờ ra sao, sợ rằng mình lại mang tội bất hiếu. Những điều thầy dạy con đã hiểu, thật là mầu nhiệm tuyệt vời. Nay xin thầy nhận lấy một thanh kiếm cho trọn nghĩa thầy trò, từ hồi con lên đây thầy chưa bao giờ cho con một cơ hội dâng kiếm báu lên thầy.
Nhà sư cười:
- Con vẫn còn một việc phải làm nữa rồi mới xuống núi được.
Ông cầm lấy mỗi thanh kiếm một tay, chém vào nhau đến tóe lửa, cứ thế mấy lần, rồi lại chém vào đá. Cuối cùng cả hai thanh kiếm đều hỏng cả. Chàng Vương chứng kiến suốt từ đầu đến cuối việc làm đó của nhà sư, nhưng chàng bình thản im lặng. Nhà sư nói:
- Đó là việc cuối cùng. Khi con đã buông bỏ được kiếm trong đầu rồi thì không cần dùng đến kiếm nữa. Ta phá chúng đi để con không bao giờ được vướng mắc vào chúng nữa. Không bao giờ phải dùng kiếm, ấy mới là tuyệt đích của kiếm thuật.
Chàng cúi đầu lễ phép:
- Thưa thầy con hiểu.
Phần 5: Xuống núi
...Chàng thanh thản đi qua hòn đá, khe nước, bụi cây, tìm đường xuống núi. Nhớ lại khi xưa chàng lên đây, mang theo hành lý, hai thanh kiếm cùng lòng thù hận và sốt ruột. Nay chàng xuống núi không mang theo một thứ gì, trong lòng cũng nhẹ nhàng ung dung.
Xuống chân núi, chợt thấy một người đội nón lá, tay xách kiếm đang đi về phía chàng, chừng như người này muốn lên núi. Khi tới gần nhau, chàng nhận ra ngay gã kiếm sĩ năm nào, gã kiếm sĩ đã khiến chàng bại trận, kẻ đã khiến chàng vất vả bao năm nay. Nhưng trong lòng chàng không còn một chút thù hận, khi hắn đến gần chàng cung kính cúi chào. Gã kiếm sĩ thấy lạ, đợi chàng ngẩng mặt lên, hắn ngạc nhiên nói to:
- Ồ ra là chàng Tiểu hổ, không ngờ ta lại gặp nhau. Chàng còn nhớ chuyện khi xưa chăng?
Chàng Vương cười thân mật:
- Chuyện khi xưa đệ còn nhớ, nhờ sư huynh mà đệ đã tìm lên núi, đã gặp được sư phụ mà học được nhiều điều hay, ơn đó của sư huynh thật là lớn.
Kiếm sĩ thốt lên:
- Vậy ra người đã gặp sư phụ ư! Hay, hay lắm, vậy ta là đồng môn rồi, hãy cho ta biết giờ sư phụ ra sao?
Chàng Vương đáp:
- Sư phụ vẫn khỏe mạnh, sư phụ đã từng nói với đệ rằng thế nào sư huynh cũng sẽ quay trở lại đây, nay quả không sai. Có lẽ sư phụ đang đợi sư huynh đó!
Kiếm sĩ cảm động rơi nước mắt:
- Ta biết ngày xưa ta còn mải báo thù nên không tiếp thu được lời dạy của sư phụ, trong lòng luôn thấy hối tiếc. Khi đã trả thù xong hết tự thấy lòng trống trải buồn bã vô cùng, ta không còn biết sống để làm gì nữa. Lúc đó mới ngẫm ra lời dạy của sư phụ, chỉ tiếc là mình đã ngu muội mà không chịu theo. Nay ta phải tìm lên đây để sư phụ dạy dỗ ta lại từ đầu. Trông chàng thật đã khác ngày xưa, thật là điều đại phúc.
Chàng Vương cảm tạ, rồi nói:
- Thôi sư phụ đang chờ sư huynh đó, sư huynh hãy đi ngay. Xin bảo trọng.
Chàng khoanh tay trước ngực từ biệt. Kiếm sĩ cũng khoanh tay trước ngực:
- XIn bảo trọng!
... Chàng Vương trở lại vùng quê cũ. Quần áo chàng đã rách nát từ lâu, thân thể lại gầy gò sắt seo hơn xưa nhiều, tóc chàng rũ rượi lấm lem, trông chàng không khác người ăn mày. Nhưng đôi mắt chàng trong trẻo, miệng luôn mỉm cười vui vẻ. Cách chàng mấy chục thước phía trước mặt cũng có một người ăn mày đầu tóc rũ rượi, trông già cả ốm yếu đang ngồi yên bên đường. Lại thấy một gã trẻ đeo kiếm, đi lại oai phong, người hai bên đường phải cúi đầu tránh đường. Hắn thấy người ăn mày ngồi yên không có vẻ gì cung kính, thì nổi giận quát:
- Tên ăn mày to gan, thấy ta đến mà không biết tránh đường lại dám dương mắt nhìn ta, thật đáng chết.
Nói rồi hắn rút kiếm ra, chĩa thẳng vào ngực người ăn mày đâm tới. Không ngờ người ăn mày kia nhanh thoăn thoắt né được ngay, lại tóm được tay tên kiếm sĩ vặn ngược ra sau lưng hắn, khiến hắn đánh rơi kiếm và đau đớn. Người ăn mày đó nói:
- Ở trên đời này phải biết rằng mình chỉ là kẻ bình thường như tất cả mọi người, chớ nên cậy có chút võ vẽ mà bạo ngược!
Chàng Vương chứng kiến hết, chàng mỉm cười. Người ăn mày dùng tay không hạ được tên kiếm sĩ đó, hẳn là đại sư huynh của ta đây. Khi đi qua người ăn xin đó, chàng cúi đầu chào cung kính rồi lại đi tiếp. Người ấy cũng mỉm cười chào chàng Vương thân thiện. Chàng vui vẻ, chắc hẳn người đó là đại sư huynh đã xuống núi từ lâu nay rồi, trông ông bình thản đến vậy cơ mà... Phía trước chàng lại có một gã kiếm sĩ nghênh ngang đi tới, vừa đi vừa quát om sòm. Chàng vui vẻ cúi đầu, đứng nép mình bên đường chờ hắn đi qua rồi mới đi tiếp.
HẾT
Subscribe to:
Comments (Atom)
