Tuesday, April 6, 2010

NHÀ NHO HÀN DŨ VÀ HÒA THƯỢNG TẾ ĐIÊN

Trong sách Văn học phổ thông, có bài Lẽ ghét thương của cụ Nguyễn Đình Chiểu, trong đó có câu:

Thương ông Hàn Dũ chẳng may
Sớm dâng lời biểu tối đày đi xa.

Câu chuyện là thế này: ông Hàn Dũ là một nhà nho uyên thâm, thời của ông nhà vua rất trọng đạo Phật, vì lẽ đó mà Nho giáo suy vi. Hàn Dũ là một nhà nho nên thấy vậy thì bức xúc không chịu được, muốn khôi phục lại địa vị của Nho gia, muốn như Mạnh Tử ngày xưa tự phong cho mình nhiệm vụ đánh đổ Dương Mặc khôi phục Nho gia, giờ Hàn Dũ cũng tự phong cho mình cái nhiệm vụ thiêng liêng là đánh đổ Phật pháp khôi phục Nho gia, muốn lưu danh như Mạnh Tử. Quan niệm lưu danh của Nho gia rất nặng nề (Đã mang tiếng ở trong trời đất, phải có danh gì với núi sông. Nguyễn Công Trứ). Vậy nên ông không ngừng mạt sát đạo Phật bằng những lời lẽ sắc sảo, cay nghiệt của một bậc cự nho. Có lần, ông viết một bài biểu rất gay gắt để can vua không được theo đạo Phật nữa, động chạm đến tâm linh của nhà vua nên ông bị giáng chức, đi đày ở phương Nam xa xôi.

Phương Nam luôn được coi là Nam man, xa Trung nguyên, văn minh cũng kém hơn, ảnh hưởng của văn hóa Trung Nguyên cũng ít hơn, ở đó Hàn Dũ không kiếm được ai có sở học đàng hoàng để giao du. Nhưng nghe nói có một hòa thượng rất nổi tiếng là Tế Điên Hòa Thượng, Hàn Dũ cũng muốn đến gặp ông già này xem sao, ông rất muốn lật mặt nhà Phật. Thế là ông cũng lên chùa. Lúc đó Hòa Thượng Tế Điên đang ngồi thiền, tĩnh tâm yên lặng, dáng vẻ nghiêm túc mà thanh thản, thấy vậy Hàn Dũ cũng không nỡ làm phiền, đành ngồi đợi nhà sư nhập thiền xong. Cảnh chùa tĩnh mịch, cộng với vẻ an lạc của nhà sư cũng khiến Hàn Dũ mềm lòng đi mấy phần, và thầm khâm phục cái đạo phong thanh thản của nhà sư. Nhưng đợi mãi chả thấy Tế Điên có biểu hiện gì, ông nản quá, đang định bỏ về thì nghe thị giả của Hòa thượng nói:

- Trước dùng Định đoạt, sau lấy trí nhổ!

Đại ý: Ban đầu Hòa Thượng dùng sự tĩnh lặng của Thiền định để trấn an tâm của Hàn Dũ, sau đó sẽ dùng trí tuệ để chinh phục Hàn Dũ.

Ông hiểu ngay, quay lại, thấy Hòa thượng cũng vừa mở mắt, mỉm cười. Ông có phần nể nhà sư mấy phần. Hai người ngồi trao đổi, trò chuyện với nhau một lúc, Hàn Dũ thấy lòng thanh thản. Khi ra về, ông hỏi Hòa Thượng năm nay bao nhiêu tuổi. Tế Điên cứ cười không nói gì.

Lần sau ông lại lên chùa, gặp chú tiểu đi ngang qua, liền kéo chú tiểu lại hỏi:

- Này chú tiểu, Hòa Thượng năm nay bao nhiêu tuổi?

Chú tiểu cũng không nói gì, lấy tay gõ vào răng ba cái rồi đi. Hàn Dũ bối rối chả hiểu thế nghĩa là sao. Lúc sau, ông hỏi Thiền sư xem chuyện đó có nghĩa gì, thì thiền sư cũng lấy tay gõ vào răng ba cái.




Câu chuyện trên có thể giải thích thế nào? Nhà Thiền luôn an trú trong hiện tại, chẳng mảy may bận tâm gì đến tương lai, nuối tiếc gì quá khứ, đối với họ, thời gian có nghĩa lý gì? Đói thì ăn, mệt thì nghỉ, thong thả đi dạo, thấy hữu tình thì làm thơ, vui sống trong hiện tại và ung dung đón nhận cái chết khi cái chết đến. Mà thời gian thì vô thủy vô chung, trôi đi không ngừng, đâu có thể nắm bắt được thời gian bằng cách đặt ra những năm, những tháng? Chỉ những người đắm đuối chìm nổi với chốn trần thế thì mới cần biết những năm những tháng, còn đối với Thiền sư thì ông là một người vô sự, chẳng lo sống cũng chẳng lo chết, hè đến thì vui hè, đông đến thì vui mùa đông, xuân sang thì vui cái vui của mùa xuân, khi rừng trút lá thì cũng vui với cảnh rừng trút lá, không chút chờ đợi, tìm kiếm hay hoài niệm. Khi xưa có vị vua nhà Trần của ta hỏi một thiền sư của ta bao nhiêu tuổi, nhà sư cũng đáp:

Chỉ biết tháng năm này
Ai rành ngày tháng trước.



Về sau ông Hàn Dũ từ bỏ luôn tham vọng đánh đổ đạo Phật khôi phục đạo Nho, tiếp xúc với hòa thượng Tế Điên nhiều, những suy nghĩ tiêu cực của ông về đạo Phật trước kia cũng tan biến. Có lần ông than: Tâm kinh hai trăm năm mươi chữ ta còn chẳng thấu, thế mà cứ hễ mở miệng ra là mạt sát nhà Phật!


Chuyện vui cửa Thiền - Lịch Sử Việt Nam

CHUYỆN BÀ GIÀ HAY TỤNG KINH

(Dẫn nguồn: Người vô sự, Tác giả Thích Nhất Hạnh)

Ngày xưa, tờ báo Đuốc Tuệ có đăng chuyện một bà ở miền Bắc. Bà rất siêng niệm Phật A Di Đà. Bà niệm năm này sang năm khác. Nhưng không thấy bà có chuyển hóa gì cả, bà vẫn dữ như thường, hàng xóm ai cũng sợ bà. Mỗi khi bà mất một con gà, bà leo lên ngồi trên nóc nhà mà chửi. Hồi đó chưa ai có máy microphone nên leo lên nóc nhà để chửi thì mọi người mới có thể nghe. Bà chửi như thế này:"Mầy ăn gà của bà thì cha mày bị cái này, mẹ mày bị cái kia..." Có một ông hàng xóm muốn cho bà một bài học. Hôm đó, cũng như thường lệ, đúng giờ bà thắp nhang đèn chuông mõ để tụng kinh, vừa mở miệng "Nam mô A DI Đà Phật" thì ông hàng xóm gọi to ngoài cổng: "Bà Tư ơi, bà Tư!". Bà Tư gõ mõ lớn hơn để chứng tỏ rằng bà đang bận việc rất quan trọng, đó là tụng kinh niệm Phật,ông đừng có quấy rầy bà. Nhưng ông hàng xóm giả bộ không nghe, kêu to hơn nữa: Bà Tư ơi, bà Tư! Bà Tư lại càng thỉnh chuông gõ mõ to hơn nữa, để nói với ông hàng xóm rằng: đừng quấy rầy tôi trong khi tôi đang làm công việc linh thiêng quan trọng này. Rồi bà lại niệm: Nam mô A Di Đà Phật. Bà cứ tiếp tục niệm, ông hàng xóm ở ngoài cứ gọi, bà niệm to hơn thì ông gọi càng to hơn. Cứ như thế hai bên thi nhau rống lên. Cuối cùng, giận quá, bà quăng chuông mõ, bỏ ra ngoài đứng chống nạnh chửi: "Tiên sư nhà nó, tao đang tụng niệm Phật mà nó cứ đến phá như vậy." Lúc đó ông hàng xóm tươi cười nhìn bà nói: "Trời đất ơi, tôi mới gọi bà có bốn, năm chục lần mà bà Tư đã nổi giận như vậy. Trong khi bà Tư cứ gọi Phật A Di Đà suốt ngày suốt đêm, năm này qua năm khác như vậy, chắc là Phật giận bà Tư giữ lắm "



Câu chuyện trên làm Ske nhớ đến 1 chuyện trước đây do Osho viết: Linh mục John là người rất ngoan đạo, ông cầu kinh buổi sáng, buổi trưa, buổi tối, trước khi đi ngủ, không ngày nào lơ là. Bên cạnh nhà ông có một tên đồ tể chả bao giờ thèm cầu nguyện. Bất ngờ cả hai cùng chết một ngày. Linh hồn cả hai chờ ở cổng Thiên Đường để nghe Chúa phán xử. Thấy mặt 2 người này, Chúa phán ngay: Tên đồ tể được ở Thiên Đường, còn ông linh mục kia xuống Địa Ngục. Linh mục John thấy oan ức quá, liền kêu: Xin chúa hãy công bằng, con cả đời một lòng thành kính với Chúa, còn hắn (chỉ tên đồ tể) thậm chỉ chả bao giờ cầu kinh cơ mà?

Chúa xua tay đáp: Ta biết ta biết, nhưng việc gì cũng có lý do cả. Tại ngươi cứ reo réo gọi tên ta suốt cả sáng, cả trưa cả chiều, đến tối ta đang đi ngủ vẫn bị ngươi gọi dậy, ta không lúc nào được yên với ngươi. Ở trần gian mà ngươi còn làm phiền ta đến như vậy, cho ngươi ở Thiên Đường thì ta còn khổ sở đến mức nào. Vậy ngươi xuống địa ngục là xứng đáng rồi. Tên đồ tể kia thì chẳng bao giờ làm phiền đến ta, ngươi so đo làm sao được .
Chuyện vui cửa Thiền - Lịch Sử Việt Nam

THIỀN SƯ ĐỐT TƯỢNG PHẬT: Thiền sư Đan Hà ban đầu vốn là một học trò, đi thi lận đận mãi. Về sau, ông tò mò muốn tìm hiểu Phật pháp, bèn tìm đến đạo t

THIỀN SƯ ĐỐT TƯỢNG PHẬT:

Thiền sư Đan Hà ban đầu vốn là một học trò, đi thi lận đận mãi. Về sau, ông tò mò muốn tìm hiểu Phật pháp, bèn tìm đến đạo tràng của Thiền sư Đạo Nhất, một thời gian ông được Tổ Đạo Nhất gửi đến tu học với Tổ sư Thạch Đầu, sau ba năm tu học với Tổ Thạch Đầu thì đắc đạo, trở về với đạo tràng của tổ Đạo Nhất. Trở về chùa, ông đi thẳng vào Tổ Đường mà không đảnh lễ, còn leo lên ngồi trên lưng tượng Bồ Tát Văn Thù. Sư chúng thấy vậy thất kinh không dám làm gì, lên thưa với Tổ Đạo Nhất. Thiền sư xuống Tổ Đường thấy Đan Hà thản nhiên ngồi trên lưng tượng đức Văn Thù, Tổ thích quá liền nói: "Ô, ngã tử thiên nhiên!" (ồ, con ta tự nhiên quá!) Đan Hà mới bước xuống lạy Tổ: "Cám ơn hòa thượng đã ban pháp danh cho con", từ đó thiền sư Đan Hà có tên là "Đan Hà Thiên Nhiên". Tổ sư Đan Hà sinh năm 739, tịch năm 824.

Có lần Tổ Đan Hà đến chùa Huê Lâm vào mùa Đông, khí hậu rất lạnh. Tổ thấy mọi người trong chùa tu học rất siêng nhưng lại cố chấp, thà chịu rét, chịu cóng chứ không có củi sưởi. Tổ bèn lấy một tượng Phật bằng gỗ, chẻ ra bỏ vào lò để sưởi. Tất cả các thầy ở trong chùa đều phản đối. Họ đi thưa với thầy viện chủ.

Viện chủ hỏi: "tại sao dám đốt tượng Phật?"

Tổ Đan Hà lấy cây que khơi tro than ra tìm gì đó.

Viện chủ hỏi: "Tìm cái gì?"

Tổ nói: "Tìm ngọc xá lợi".

Viện chủ hỏi: "Tượng gỗ làm sao có xá lợi?"

Tổ mới nói: "Nếu tượng gỗ này không có xá lợi thì đem mấy cái tượng gỗ khác xuống đốt cho luôn."

Lúc đó vị viện chủ giác ngộ, biết đây là bài học cho mình. Thiền sư Nhất Hạnh của ta nói rằng, đốt một tượng Phật mà giúp cho người khác giác ngộ thì cũng không tốn kém gì.



Chú thích của Ske: Bồ tát Văn Thù: Một vị bồ tát quan trọng của Phật giáo, chủ về trí tuệ, người tu Phật cảm thấy trí tuệ tăm tối mù mịt thì thường tụng niệm: Nam mô đức Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
Xá lợi: Những vị tu hành đắc đạo như Phật, khi chết xác được đem thiêu, trong tro than thường tìm được những vật thể không bị cháy, có những tính chất đặc biệt như rất cứng, có ánh sáng đẹp như ngọc, được gọi là ngọc xá lợi.


Lời bàn của Ske: Tụng kinh, niệm Phật, tô tượng đúc chuông, ấy chỉ là những cái hình thức bên ngoài. Các nhà tu hành ngày ấy và ngày nay nữa quá coi trọng cái hình thức bên ngoài ấy, mà không biết rằng, Phật đâu có nằm trong các pho tượng mà thờ, Phật đâu có nằm trong các kinh sách để mà tụng. Có vị thiền sư nhận thấy kinh sách chả giúp ích gì cho mình, đã đốt hết kinh sách đi, về nhà làm ruộng, và trong khi làm ruộng thì ông chợt "ngộ" ra và đắc đạo! Thế mới biết rằng con đường đặc đạo thật độc đáo, chả ai giống với ai, người này tụng kinh thì ngộ nhưng người khác thì tụng kinh cả đời cũng không ngộ được, với người như vậy thì mang theo kinh sách, thờ tượng Phật cả đời cũng chả có ích gì. Thiền tông đặc sắc ở chỗ đó, những người dám đốt tượng, đốt kinh sách mà ngộ đạo thì Ske chỉ thấy ở Thiền tông.
Chuyện vui cửa Thiền - Lịch Sử Việt Nam

THIỀN SƯ TRIỆU CHÂU

THIỀN SƯ TRIỆU CHÂU

Thiền sư Triệu Châu là một thiền sư nổi tiếng, mỗi lần ông giảng pháp có rất nhiều người đến nghe. Có nhiều nhà sư ở xa xôi, nghe danh thiền sư cũng tìm đến để vấn pháp. Hôm nọ, pháp thoại xong có hai nhà sư ở lại xin được tiếp kiến. Thiền sư hỏi một người:

- Thầy đến đây lần nào chưa?

- Bạch hòa thượng, tôi mới đến đây lần đầu.

- Vậy thầy uống trà đi.

Thiền sư quay sang hỏi nhà sư kia:

- Thầy đến đây lần nào chưa?

- Bạch hòa thượng, tôi đã đến nhiều lần rồi.

- Vậy thầy uống trà đi.

Thị giả của thiền sư thấy vậy, băn khoăn hỏi:

- Sao hai người đó khác nhau mà thầy lại đối với họ như nhau thế?

- Thầy cũng uống trà đi.



Anh em có kiến giải gì không?.....

Thiền sư Triệu Châu có 1 công án nổi tiếng: Một hôm có người hỏi thiền sư: Đại ý của Phật pháp là gì? Thiền sư hỏi: Thầy đã ăn cơm chưa? - Dạ con ăn rồi. - Vậy thầy đi rửa bát đi. Nghe thế vị kia chợt đại ngộ.

Anh em có ai "thấy" cái gì không? Nếu không thấy được gì cả thì ta cho công án này ra khỏi tâm ta luôn nhé.





THIỀN SƯ CÕNG GÁI:

Bữa nọ thiền sư (Ske lại không nhớ tên) và đệ tử đi du hành. Đến 1 con suối, nước lên suối chảy xiết, các cô gái đứng bên bờ này bó chân không sao sang bên kia được. Thiền sư thấy vậy, bế từng cô một sang bên kia suối. Đệ tử thấy vậy thì rất kinh hãi, thường ngày nhà sư vẫn dạy không được gần nữ sắc, nam nữ thụ thụ bất thân, thế mà hôm nay ông ấy dám...

Đệ tử đó băn khoăn lắm, một tháng sau quyết hỏi nhà sư bằng được:

- Bạch thầy, thầy thường ngày vẫn dạy chúng con không được gần gũi nữ sắc để tâm không bị vấy đục, vậy sao hôm nọ thầy lại bế từng cô gái sang suối?

Thiền sư đáp:

- Đáng thương thay. Ta chỉ mang cô gái từ bờ này sang bờ kia, còn ngươi đã mang theo cô gái đó cả tháng nay rồi!



Lời bàn của Ske: Tâm bậc đắc đạo thì không phân biệt, không chấp này nọ, không cực đoan. Còn đệ tử thì tâm vẫn còn mắc mớ vào kinh sách, chưa đạt đến độ "tâm vô phân biệt" như thầy, vậy nên mới là đệ tử.
__________________

Chuyện vui cửa Thiền - Lịch Sử Việt Nam

LẠI CHUYỆN THIỀN SƯ VÀ TÔ ĐÔNG PHA:

Sau lần thua đó, Tô Đông Pha càng thêm khâm phục thiền sư, nhiều lần đến chùa chơi, nghe pháp thoại và trò chuyện cùng thiền sư, càng thêm tâm đắc đạo Phật. Nhà Tô cách chùa 1 con sông, mấy hôm mưa gió không lên chùa chơi được thấy nhớ chùa. Tô bèn làm 1 bài thơ, bảo tiểu đồng mang đến gửi cho nhà sư. Đại ý bài thơ là: Lòng Tô Đông Pha ta tin tưởng sâu sắc Phật Pháp, dẫu có tám ngọn gió lớn cũng không lay chuyển được.

Nhà sư xem xong, lấy bút phê vào hai chữ, rồi nhờ tiểu đồng mang trở về. Nhận được thư của nhà sư, Tô hí hửng lắm, chắc nhà sư thấy được chân tình của ta rồi. Không ngờ, mở thư ra chỉ thấy 2 chữ: "phóng khí"! (đánh rắm! Thiền sư bảo, lời của ông thối như đánh rắm ấy).

Tô Đông Pha bừng bừng tức giận , đang mưa gió cũng chèo thuyền sang sông, chạy thẳng lên chùa. Nhà sư đã đợi ở đó từ bao giờ. Tô hầm hầm nói: Tôi với ông đi lại đã nhiều năm, lòng thành của tôi với Phật pháp ai cũng biết rõ, vậy mà sao ông lại dám đối với lòng thành của tôi một cách quá quắt như thế?

Thiền sư tươi cười đáp:

- Thế Tô Đông Pha vững vàng tám ngọn gió thổi không lay đâu rồi? nay mới có 1 ngọn gió mà ngài đã phải lặn lội mưa gió chèo thuyền sang sông thế này?

Tô đớ người ra. Lại cáo lui, đội mưa chèo thuyền về



Lời bàn của Ske: Tô học sĩ học thông biết nhiều, Phật pháp am hiểu, nhưng chỉ có cái hiểu thôi, chưa có tâm Phật, nên vẫn còn ham muốn tranh biện hơn thua, vẫn còn nổi giận. Thế nhưng tự cao tự đại rằng tâm mình thuộc về cửa Phật, tám ngọn gió thổi không lay. "Bốc" lắm thay!
__________________
Chuyện vui cửa Thiền - Lịch Sử Việt Nam

Chuyện vui cửa Thiền - Lịch Sử Việt Nam

LẠI CHUYỆN THIỀN SƯ VÀ TÔ ĐÔNG PHA:

Kể từ sau lần thua đó, Tô Đông Pha rất kính phục lão hòa thượng, nhưng trong bụng vẫn muốn thắng lão già ấy một phen. Một hôm Tô Đông Pha đến chơi chùa, cùng ngồi thiền với nhà sư, trong khi ngồi thiền thấy an lạc xuất hiện. Xả thiền xong, Tô rất vui vẻ hỏi nhà sư:

- Ngài thấy tôi ngồi thiền như thế giống cái gì?

- Trong ngài giống như Đức Phật.

Tô nghe thế vui lắm. Thiền sư hỏi lại:

- Thế ngài thấy tôi ngồi thiền giống cái gì?

Tô đáp:

- Trông ngài ngồi thiền giống 1 đống phân bò

Thiền sư nghe thế cũng hứng chí lắm.

Tô Đông Pha cười suốt dọc đường về, nghĩ bụng hôm nay ta đã thắng lão hòa thượng đó 1 phen rồi. Bị ta nói là đống phân bò mà không bẻ lại được câu nào cả. Tô về khoe với em gái Tô tiểu muội:

- Hôm nay anh đã qua mặt được lão sư già đó rồi

Tô tiểu muội hỏi chuyện gì, Tô Đông Pha hào hứng kể lại. Tô tiểu muội cười ầm lên, Tô Đông Pha càng hào hứng. Tiểu muội nói:

- Muội cười là cười huynh đó, huynh lại thua lão hòa thượng ấy rồi.

Tô ngạc nhiên hỏi thế nào. Tiểu muội đáp:

- Tâm lão hòa thượng là tâm bồ tát, nên thấy huynh cũng giống như Bồ tát. Còn tâm của huynh thì toàn phân bò nên huynh thấy hòa thượng như đống phân bò thôi. Tâm huynh như thế làm sao mà bằng được tâm lão hòa thượng

Tô đỏ mặt tía tai, xấu hổ với em gái quá.
Chuyện vui cửa Thiền - Lịch Sử Việt Nam

Chuyện vui cửa Thiền - Lịch Sử Việt Nam

THIỀN SƯ VÀ TÔ ĐÔNG PHA:

(Ske quên mất tên của thiền sư rồi, nhưng không quan trọng lắm )

Tô Đông Pha là đại học sĩ đời nhà Tống, văn chương thơ phú cầm kỳ thi họa đều thuộc dạng cự phách của Trung Quốc. Ông có tư chất thông minh, ung dung phóng túng, ngoài Thi Thư Lễ Nhạc thì Phật, Lão, Trang đều biết rõ, thấu suốt kinh điển nhà Phật và thường hay giao lưu với một bậc thiền sư thời đó.

Có một hôm, Tô Đông Pha đến nghe Thiền sư thuyết pháp, nhưng hôm ấy thính đường đông người quá, Thiền sư nói:

- Hôm nay không có chỗ cho Tô học sĩ ngồi mất rồi.

Tô Đông Pha đáp:

- Có gì đâu, vậy thiền sư cho mượn thân tứ đại ngũ uẩn của ngài làm chỗ ngồi vậy nhé.

Ý Tô muốn đùa nhà sư rằng: Tôi có thể ngồi lên lưng ông được đó. Nhà sư thấy Tô có ý khoe khoang về Phật Pháp, thì tươi cười nói:

- Thế này nhé, ta hỏi ngài 1 câu, nếu ngài trả lời được thì ta cho ngài mượn cái thân ta làm ghế ngồi, còn không trả lời được thì ngài để lại cái đai ngọc của ngài ở đây nhé.

Tô hý hửng, phen này ta ra oai được với lão sư già này đây, vốn Phật học của Tô rất chắc, Tô rất tự tin.

Thiền sư hỏi:

- Tứ đại vốn giả hợp, ngũ uẩn chẳng có tự tính, vậy Tô học sĩ sẽ ngồi đâu?

Tô Đông Pha bí quá không trả lời được, đành để lại cái đai ngọc ở chùa đó. Cái đai được giữ ở chùa cho đến ngày nay, nó được đưa về 1 viện bảo tàng của Trung Quốc.



Chú thích của Ske: Tứ đại đó gồm Phong đại: các yếu tố có tính chất chuyển động, như không khí; Địa đại: Các yếu tố có tính chất rắn chắc, bền vững; Thủy đại: các yếu tố có tính chất như chất lỏng; hỏa đại: các yếu tố sức nóng, năng lượng. Cơ thể người được cấu thành từ 4 đại đó: Phong đại là không khí trong phổi, trong máu; địa đại là thịt, xương, da, gân, tóc; thủy đại là máu, bạch huyết, nước tiểu, mật; hỏa đại là năng lượng để cơ thể sống và hoạt động. Nếu thiếu 1 đại thì cơ thể không tồn tại, nhưng thân tứ đại đó là sự giả hợp, vô thường, cát bụi lại trở về với cát bụi không có gì bền vững cả.

Ngũ uẩn: gồm sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Cả 5 uẩn đều không có tự tính (vô ngã), cũng chỉ là sự giả hợp.
Chuyện vui cửa Thiền - Lịch Sử Việt Nam