Bài học 2:
Gà tây nói với Bò tót:
- Tôi muốn nhảy lên ngọn cây kia nhưng tôi không đủ sức.
- Vậy thì rỉa phân tôi đi. - Bò tót khuyên.
Gà tây mổ phân của Bò tót và thấy thực sự đủ sức để nhảy lên cành cây
thứ nhất. Ngày tiếp theo, sau khi ăn một ít phân bò, Gà tây nhảy được
đến cành cây thứ hai. Cứ thế đến nửa tháng sau, Gà tây đã lên tới ngọn
cây. Không lâu sau đó, Gà tây bị một bác nông dân bắn rơi.
Bài học rút ra: Sự ngu ngốc có thể đưa bạn lên đỉnh cao nhưng không
thể giữ bạn ở đó mãi.
Lê Vũ - Bình địa mộc. - Nguyễn Chí Vịnh!
Sunday, May 9, 2010
Cáo và Quạ
Bài học 1:
Thấy Quạ ngồi trên cây cả ngày mà không làm gì, Thỏ con hỏi:
- Tôi có thể ngồi cả ngày mà không làm gì như anh không?
- Tất nhiên, tại sao lại không. - Quạ nói.
Vậy là Thỏ con ngồi dưới đất nghỉ ngơi. Bỗng nhiên, Cáo già xuất hiện,
vồ lấy Thỏ và ăn thịt.
Bài học rút ra: Để được ngồi không, bạn phải ngồi ở vị trí rất, rất cao.
Lê Vũ - Bình địa mộc. - Nguyễn Chí Vịnh!
Thấy Quạ ngồi trên cây cả ngày mà không làm gì, Thỏ con hỏi:
- Tôi có thể ngồi cả ngày mà không làm gì như anh không?
- Tất nhiên, tại sao lại không. - Quạ nói.
Vậy là Thỏ con ngồi dưới đất nghỉ ngơi. Bỗng nhiên, Cáo già xuất hiện,
vồ lấy Thỏ và ăn thịt.
Bài học rút ra: Để được ngồi không, bạn phải ngồi ở vị trí rất, rất cao.
Lê Vũ - Bình địa mộc. - Nguyễn Chí Vịnh!
Monday, April 19, 2010
The Voice of Happiness
Sau khi Bankei qua đời, người đàn ông mù sống gần với chùa của thiền sư nói đã nói với một người bạn: "Từ khi tôi bị mù, tôi không thể thấy mặt của mọi người, nên tôi phải phán đoán tính cách của người ta qua giọng nói. Thông thường, khi tôi nghe một người chúc tụng ai đó về sự thành công và hạnh phúc, tôi cũng nghe thấy những âm thanh của sự ghen tỵ. Khi một lời chia buồn được nói ra, cũng là lúc tôi nghe thấy sự hài lòng và mãn nguyện, như thể nỗi đau của người này sẽ làm tăng thêm niềm vui của những người khác."
"Chỉ với giọng nói của Bankei, với tất cả kinh nghiệm của mình, tôi thấy nó luôn thành thật. Khi ông bày tỏ niềm vui, tôi chẳng thấy gì người hạnh phúc, và bất cứ khi nào ông ấy nói về nỗi buồn, đau khổ là điều duy nhất tôi được nghe."
After Bankei had passed away, a blind man who lived near the master's temple told a friend: "Since I am blind, I cannot watch a person's face, so I must judge his character by the sound of his voice. Ordinarily when I hear someone congratulate another upon his happiness or success, I also hear a secret tone of envy. When condolence is expressed for the misfortune of another, I hear pleasure and satisfaction, as if the one condoling was really glad there was something left to gain in his own world.
"In all my experience, however, Bankei's voice was always sincere. Whenever he expressed happiness, I heard nothing but happiness, and whenever he expressed sorrow, sorrow was all I heard."
"Chỉ với giọng nói của Bankei, với tất cả kinh nghiệm của mình, tôi thấy nó luôn thành thật. Khi ông bày tỏ niềm vui, tôi chẳng thấy gì người hạnh phúc, và bất cứ khi nào ông ấy nói về nỗi buồn, đau khổ là điều duy nhất tôi được nghe."
After Bankei had passed away, a blind man who lived near the master's temple told a friend: "Since I am blind, I cannot watch a person's face, so I must judge his character by the sound of his voice. Ordinarily when I hear someone congratulate another upon his happiness or success, I also hear a secret tone of envy. When condolence is expressed for the misfortune of another, I hear pleasure and satisfaction, as if the one condoling was really glad there was something left to gain in his own world.
"In all my experience, however, Bankei's voice was always sincere. Whenever he expressed happiness, I heard nothing but happiness, and whenever he expressed sorrow, sorrow was all I heard."
A Cup of Tea
Nan-in, một thiền sư người Nhật trong thời kỳ Meiji(1868-1912), tiếp đón một giáo sư đại học, người muốn đến để hỏi về Thiền.
Nan-in rót trà mời khách. Cốc nước đã đầy, nhưng ông vẫn tiếp tục rót.
Ông giáo sư ngồi nhìn nước tràn ra ngoài đến khi không thể kìm lòng được. "Nó đầy rồi, không thể rót thêm nữa đâu" vị giáo sư nói.
"Giống như chiếc cốc này, trong đầu ngài đã đầy những quan điểm và định kiến rồi. Vậy làm sao tôi có thể chỉ cho ngài về Thiền được." Thiền sư trả lời.
Nan-in rót trà mời khách. Cốc nước đã đầy, nhưng ông vẫn tiếp tục rót.
Ông giáo sư ngồi nhìn nước tràn ra ngoài đến khi không thể kìm lòng được. "Nó đầy rồi, không thể rót thêm nữa đâu" vị giáo sư nói.
"Giống như chiếc cốc này, trong đầu ngài đã đầy những quan điểm và định kiến rồi. Vậy làm sao tôi có thể chỉ cho ngài về Thiền được." Thiền sư trả lời.
Nan-in, a Japanese master during the Meiji era (1868-1912), received a university professor who came to inquire about Zen.
Nan-in served tea. He poured his visitor's cup full, and then kept on pouring.
The professor watched the overflow until he no longer could restrain himself. "It is overfull. No more will go in!"
"Like this cup," Nan-in said, "you are full of your own opinions and speculations. How can I show you Zen unless you first empty your cup?Sunday, April 18, 2010
Bauxite Việt Nam: Thư giãn Chủ nhật: Gửi người một ngàn năm sau
Lão Hâm
Chính quyền Thành phố Hà Nội bỏ hẳn ý định gửi thư cho Thăng Long một ngàn năm sau, hình như do khó xác định nội dung thư gồm những gì.
Với tư cách cá nhân, tôi nghĩ mình viết cũng chả ai cấm.
Tạm thời dưới đây là bản thảo bức thư, tôi sẽ rất cảm kích nếu bạn đọc đóng góp ý kiến để tôi hoàn chỉnh bức thư đến mức tối đa có thể, chẳng gì cũng là thư gửi xuyên thiên niên kỷ?
“Bạn thân mến!
Trước hết tôi xin nói rằng khi bạn đọc bức thư này thì tôi đã trên 1000 tuổi, nếu tôi còn sống. Tất nhiên là không ai sống được lâu thế, nên bạn hãy tin chắc rằng tôi đã thăng từ lâu rồi. Và cũng tin chắc luôn là người chết không bao giờ nói xạo (đúng ra người Thăng Long hay dùng từ “nói dối” hơn, nhưng trong trường hợp này dùng từ “nói dối” nghe có vẻ lừa đảo).
Thứ nữa, nếu trung bình thế hệ nọ cách thế hệ kia 25 năm thì tính ra bạn sau tôi đúng 40 thế hệ. Biết đâu bạn lại là hậu duệ 40 đời của tôi cũng nên?
Vậy mà tôi vẫn cứ gọi bạn là “bạn”, chả nhẽ lại viết “Chút chít bốn mươi đời thân mến ơi”! – Nghe buồn cười quá?
Hơn nữa, gọi nhau là “bạn” cho nó lịch sự. Người Thăng Long nổi tiếng là lịch sự, trừ những lúc họ chửi nhau. Mà họ chửi nhau không như cơm bữa giống các nơi khác đâu nhé, họ chỉ chửi trong khoảng thời gian giữa các bữa ăn thôi.
Tôi đoán là ở thời đại của các bạn, nghĩa là 1000 năm sau khi tôi viết lá thư này, loài người có những tiến bộ khoa học công nghệ khủng khiếp. Các bạn dùng một loại năng lượng mới mà loài người chúng tôi hiện nay chưa biết đến. Các bạn sẽ có những phương tiện giao thông nhanh tới mức đi từ Hà Nội (tức là Thăng Long đó!) sang Newyork chỉ mất đúng bốn phút.
Tôi cũng đoán là 1000 năm nữa Thăng Long có thể mở rộng đến Bạc Liêu, Cà Mau chỉ là huyện ngoại thành. Tôi đoán thế là căn cứ vào tốc độ mở rộng của thành phố hiện nay, biết đâu có khi lúc đó Cà Mau cũng nằm trong Thăng Long thành rồi cũng nên?
Nói thế để thấy chúng tôi không thể nào tưởng tượng được về cuộc sống của các bạn. Các bạn thì lại có thể biết về chúng tôi qua các thư viện điện tử mà chẳng cần phải nhờ đến công tác khảo cổ khá tốn kém và phiền phức làm gì.
Vì vậy tôi xin hạn chế nội dung bức thư này ở những thứ chắc là sẽ không có trong thư viện điện tử của các bạn.
Người dân Thăng Long chúng tôi tự hào về rất nhiều cái nhất của mình. Năm nay, kỷ niệm một ngàn năm thành phố, Hà Nội đã nằm trong tốp 10 thành phố lớn nhất hành tinh, ít nhất cũng là về diện tích, các chỉ số khác từ từ chúng tôi cũng sẽ vào top ten sau.
Tôi xin liệt kê một số điểm nhất của chúng tôi:
- Giống như người dân cả nước, người Hà Nội thích đi xe hai bánh. Tục ngữ có cách nói ví von: “Vững như kiềng ba chân” thế nhưng chúng tôi chỉ cần vững ba chân khi đứng, ngồi hoặc nằm, chứ khi di chuyển chỗ đông người thì lại chỉ dùng hai chân hoặc hai bánh. Mật độ xe hai bánh trên một mét vuông đường của chúng tôi là cao nhất thế giới và đương nhiên là tỷ lệ tai nạn giao thông trên đầu người của chúng tôi cũng vào loại cao nhất.
- Trong tình hình đó, mật độ cảnh sát giao thông chia trung bình trên số ngã tư cũng là cao nhất thế giới. Nếu bạn sinh ra vào cùng thời với chúng tôi, bạn có thể thấy ở một ngã tư có đến ba anh cảnh sát giao thông vất vả chỉ huy các luồng xe gồm toàn con rồng cháu tiên phi như người trời hoặc như cướp biển.
- Hà Nội là thành phố hào hoa, nó có chiều dày văn hóa kiến trúc theo kiểu “trăm hoa đua nở”, nhà nào muốn nở kiều gì thì nở kiểu đó theo phương châm nhà này khoái mẹ nhà kia, nghĩa là nhà này muốn làm bố nhà kia. Nhờ đó Hà Nội mới có những nhà siêu mỏng, siêu sâu, siêu lênh khênh và siêu lởm khởm.
- Các đường phố thì chúng tôi cương quyết không bắt chước bọn thực dân Pháp. Chúng nó làm đường thẳng quá, trông rất đơn điệu. Chúng tôi làm đường phải uốn lượn, cố tình làm mềm mại không gian đô thị và đó là một cách hạn chế tốc độ giao thông hữu hiệu.
Tôi xin lỗi là điều tôi vừa nêu bạn có thể tìm thấy trong bản đồ Hà Nội năm 2010. Cái mà bạn không thể biết được là vỉa hè Hà nội. Chúng tôi là một thành phố yêu vỉa hè nhất thế giới. Tình yêu đó thể hiện ở hai chỗ. Một là cái gì chúng tôi cũng làm trên vỉa hè hết: buôn bán, sửa xe, đá bóng, giải khát và làm động tác ngược của giải khát. Bạn có hiểu động tác ngược của giải khát là gì không? Đó nôm na là tè. Tè trên vỉa hè sướng hơn quận công nhiều, bạn hãy vào Google tra cụm từ “…vạn đại quận công” là biết ngay ấy mà!
Chỗ thứ hai thể hiện tình yêu vỉa hè là cứ vài năm chúng tôi lát lại vỉa hè một lần. Hà nội là thành phố làm lại vỉa hè nhiều và nhanh nhất thế giới. Vì biết chắc là vài năm sau sẽ làm lại nên công nhân của chúng tôi làm rất chi là tài tử, bôi bôi lấp lấp như bà già thoa phấn, thoa không khéo, gió hơi mạnh một chút là phấn bay lả tả.
Khi sửa vỉa hè thì khách bộ hành phải nhao xuống đường, tranh chấp với các loại xe cơ giới trong cuộc đấu tranh “ai thắng ai” bất phân thắng bại. Cuộc đấu tranh này càng trở nên khốc liệt khi vỉa hè đang thay áo mà đường phố thì bị con ả Thị Đào ra tay đào bới. Tôi đảm bảo rằng các bức ảnh vệ tinh chụp đường phố Hà Nội thời chúng tôi có phản ảnh rõ tình trạng đào bới, tôi chỉ muốn giải thích cho bạn và các bạn của bạn rõ nguyên nhân tất cả là do cái con mụ Thị Đào lẳng lơ đó mà thôi.
- Hà Nội là thành phố có nhiều hồ nhất thế giới, theo thống kê mới nhất chúng tôi (đã mở rộng) có tất cả là 117 hồ, to nhất là Hồ Tây, bét nhất cũng rộng một vài ha (cái này đọc là “écta”, tuy vậy có cô phát thanh viên Đài Truyền hình Việt nam vẫn xướng là “ha”, viết sao đọc vậy mà, cứ như sắp cười ha ha vậy!), bé nữa thì không tính, lúc đó chúng tôi gọi là ao.
Trong số 117 hồ nói trên gần 100 hồ đang kêu là sắp chết. Hồ mà cũng sợ chết mới là hay chứ?
Ở Hồ Gươm, hay còn gọi là Hồ Hoàn Kiếm, có cụ Rùa 500 tuổi, cụ này là thần Kim Quy nhận lại thanh gươm từ tay Lê Lợi sau khi Lê Lợi dùng thanh gươm này để đánh thắng giặc ngoại xâm. Chúng tôi rất mong không có một lần nào nữa cụ lại phải trao gươm thần, ý là mong chẳng bao giờ phải đánh giặc ngoại xâm nữa. Sợ nhất là giặc nội xâm, mà giặc nội xâm thì gươm thần vô tác dụng.
Thư đã dài, tôi kể sơ sơ mấy cái nhất của Hà Nội để bạn thấy chúng tôi có nhiều niềm tự hào lắm, song đức khiêm tốn không cho phép chúng tôi nói dài về những cái nhất của mình, mà có nói ra chắc gì bạn đã tin, ví như việc bác sĩ ăn tiền bệnh nhân, học sinh đánh thầy giáo hay nguyên cả cái Bộ giáo dục ra một văn bản có chỗ sai rồi kêu là do lỗi đánh máy…
Không phải vì tôi không đủ tiền thuê đúc một khối bê tông, bỏ bức thư này vào trong đó để đúng 1000 năm sau bạn đập khối bê tông ra xem, mà tôi sợ thợ họ ăn bớt vật liệu, mới vài chục năm khối bê tông đã nát vụn thì phí công.
Tốt nhất là tôi gửi qua Bưu điện Bờ Hồ, theo cung cách làm ăn của họ, chắc cũng phải 1000 năm sau thư mới đến tay người nhận.
Người viết thư
Lão Hâm đã ký”
Bauxite Việt Nam: Thư giãn Chủ nhật: Gửi người một ngàn năm sau
Chính quyền Thành phố Hà Nội bỏ hẳn ý định gửi thư cho Thăng Long một ngàn năm sau, hình như do khó xác định nội dung thư gồm những gì.
Với tư cách cá nhân, tôi nghĩ mình viết cũng chả ai cấm.
Tạm thời dưới đây là bản thảo bức thư, tôi sẽ rất cảm kích nếu bạn đọc đóng góp ý kiến để tôi hoàn chỉnh bức thư đến mức tối đa có thể, chẳng gì cũng là thư gửi xuyên thiên niên kỷ?
“Bạn thân mến!
Trước hết tôi xin nói rằng khi bạn đọc bức thư này thì tôi đã trên 1000 tuổi, nếu tôi còn sống. Tất nhiên là không ai sống được lâu thế, nên bạn hãy tin chắc rằng tôi đã thăng từ lâu rồi. Và cũng tin chắc luôn là người chết không bao giờ nói xạo (đúng ra người Thăng Long hay dùng từ “nói dối” hơn, nhưng trong trường hợp này dùng từ “nói dối” nghe có vẻ lừa đảo).
Thứ nữa, nếu trung bình thế hệ nọ cách thế hệ kia 25 năm thì tính ra bạn sau tôi đúng 40 thế hệ. Biết đâu bạn lại là hậu duệ 40 đời của tôi cũng nên?
Vậy mà tôi vẫn cứ gọi bạn là “bạn”, chả nhẽ lại viết “Chút chít bốn mươi đời thân mến ơi”! – Nghe buồn cười quá?
Hơn nữa, gọi nhau là “bạn” cho nó lịch sự. Người Thăng Long nổi tiếng là lịch sự, trừ những lúc họ chửi nhau. Mà họ chửi nhau không như cơm bữa giống các nơi khác đâu nhé, họ chỉ chửi trong khoảng thời gian giữa các bữa ăn thôi.
Tôi đoán là ở thời đại của các bạn, nghĩa là 1000 năm sau khi tôi viết lá thư này, loài người có những tiến bộ khoa học công nghệ khủng khiếp. Các bạn dùng một loại năng lượng mới mà loài người chúng tôi hiện nay chưa biết đến. Các bạn sẽ có những phương tiện giao thông nhanh tới mức đi từ Hà Nội (tức là Thăng Long đó!) sang Newyork chỉ mất đúng bốn phút.
Tôi cũng đoán là 1000 năm nữa Thăng Long có thể mở rộng đến Bạc Liêu, Cà Mau chỉ là huyện ngoại thành. Tôi đoán thế là căn cứ vào tốc độ mở rộng của thành phố hiện nay, biết đâu có khi lúc đó Cà Mau cũng nằm trong Thăng Long thành rồi cũng nên?
Nói thế để thấy chúng tôi không thể nào tưởng tượng được về cuộc sống của các bạn. Các bạn thì lại có thể biết về chúng tôi qua các thư viện điện tử mà chẳng cần phải nhờ đến công tác khảo cổ khá tốn kém và phiền phức làm gì.
Vì vậy tôi xin hạn chế nội dung bức thư này ở những thứ chắc là sẽ không có trong thư viện điện tử của các bạn.
Người dân Thăng Long chúng tôi tự hào về rất nhiều cái nhất của mình. Năm nay, kỷ niệm một ngàn năm thành phố, Hà Nội đã nằm trong tốp 10 thành phố lớn nhất hành tinh, ít nhất cũng là về diện tích, các chỉ số khác từ từ chúng tôi cũng sẽ vào top ten sau.
Tôi xin liệt kê một số điểm nhất của chúng tôi:
- Giống như người dân cả nước, người Hà Nội thích đi xe hai bánh. Tục ngữ có cách nói ví von: “Vững như kiềng ba chân” thế nhưng chúng tôi chỉ cần vững ba chân khi đứng, ngồi hoặc nằm, chứ khi di chuyển chỗ đông người thì lại chỉ dùng hai chân hoặc hai bánh. Mật độ xe hai bánh trên một mét vuông đường của chúng tôi là cao nhất thế giới và đương nhiên là tỷ lệ tai nạn giao thông trên đầu người của chúng tôi cũng vào loại cao nhất.
- Trong tình hình đó, mật độ cảnh sát giao thông chia trung bình trên số ngã tư cũng là cao nhất thế giới. Nếu bạn sinh ra vào cùng thời với chúng tôi, bạn có thể thấy ở một ngã tư có đến ba anh cảnh sát giao thông vất vả chỉ huy các luồng xe gồm toàn con rồng cháu tiên phi như người trời hoặc như cướp biển.
- Hà Nội là thành phố hào hoa, nó có chiều dày văn hóa kiến trúc theo kiểu “trăm hoa đua nở”, nhà nào muốn nở kiều gì thì nở kiểu đó theo phương châm nhà này khoái mẹ nhà kia, nghĩa là nhà này muốn làm bố nhà kia. Nhờ đó Hà Nội mới có những nhà siêu mỏng, siêu sâu, siêu lênh khênh và siêu lởm khởm.
- Các đường phố thì chúng tôi cương quyết không bắt chước bọn thực dân Pháp. Chúng nó làm đường thẳng quá, trông rất đơn điệu. Chúng tôi làm đường phải uốn lượn, cố tình làm mềm mại không gian đô thị và đó là một cách hạn chế tốc độ giao thông hữu hiệu.
Tôi xin lỗi là điều tôi vừa nêu bạn có thể tìm thấy trong bản đồ Hà Nội năm 2010. Cái mà bạn không thể biết được là vỉa hè Hà nội. Chúng tôi là một thành phố yêu vỉa hè nhất thế giới. Tình yêu đó thể hiện ở hai chỗ. Một là cái gì chúng tôi cũng làm trên vỉa hè hết: buôn bán, sửa xe, đá bóng, giải khát và làm động tác ngược của giải khát. Bạn có hiểu động tác ngược của giải khát là gì không? Đó nôm na là tè. Tè trên vỉa hè sướng hơn quận công nhiều, bạn hãy vào Google tra cụm từ “…vạn đại quận công” là biết ngay ấy mà!
Chỗ thứ hai thể hiện tình yêu vỉa hè là cứ vài năm chúng tôi lát lại vỉa hè một lần. Hà nội là thành phố làm lại vỉa hè nhiều và nhanh nhất thế giới. Vì biết chắc là vài năm sau sẽ làm lại nên công nhân của chúng tôi làm rất chi là tài tử, bôi bôi lấp lấp như bà già thoa phấn, thoa không khéo, gió hơi mạnh một chút là phấn bay lả tả.
Khi sửa vỉa hè thì khách bộ hành phải nhao xuống đường, tranh chấp với các loại xe cơ giới trong cuộc đấu tranh “ai thắng ai” bất phân thắng bại. Cuộc đấu tranh này càng trở nên khốc liệt khi vỉa hè đang thay áo mà đường phố thì bị con ả Thị Đào ra tay đào bới. Tôi đảm bảo rằng các bức ảnh vệ tinh chụp đường phố Hà Nội thời chúng tôi có phản ảnh rõ tình trạng đào bới, tôi chỉ muốn giải thích cho bạn và các bạn của bạn rõ nguyên nhân tất cả là do cái con mụ Thị Đào lẳng lơ đó mà thôi.
- Hà Nội là thành phố có nhiều hồ nhất thế giới, theo thống kê mới nhất chúng tôi (đã mở rộng) có tất cả là 117 hồ, to nhất là Hồ Tây, bét nhất cũng rộng một vài ha (cái này đọc là “écta”, tuy vậy có cô phát thanh viên Đài Truyền hình Việt nam vẫn xướng là “ha”, viết sao đọc vậy mà, cứ như sắp cười ha ha vậy!), bé nữa thì không tính, lúc đó chúng tôi gọi là ao.
Trong số 117 hồ nói trên gần 100 hồ đang kêu là sắp chết. Hồ mà cũng sợ chết mới là hay chứ?
Ở Hồ Gươm, hay còn gọi là Hồ Hoàn Kiếm, có cụ Rùa 500 tuổi, cụ này là thần Kim Quy nhận lại thanh gươm từ tay Lê Lợi sau khi Lê Lợi dùng thanh gươm này để đánh thắng giặc ngoại xâm. Chúng tôi rất mong không có một lần nào nữa cụ lại phải trao gươm thần, ý là mong chẳng bao giờ phải đánh giặc ngoại xâm nữa. Sợ nhất là giặc nội xâm, mà giặc nội xâm thì gươm thần vô tác dụng.
Thư đã dài, tôi kể sơ sơ mấy cái nhất của Hà Nội để bạn thấy chúng tôi có nhiều niềm tự hào lắm, song đức khiêm tốn không cho phép chúng tôi nói dài về những cái nhất của mình, mà có nói ra chắc gì bạn đã tin, ví như việc bác sĩ ăn tiền bệnh nhân, học sinh đánh thầy giáo hay nguyên cả cái Bộ giáo dục ra một văn bản có chỗ sai rồi kêu là do lỗi đánh máy…
Không phải vì tôi không đủ tiền thuê đúc một khối bê tông, bỏ bức thư này vào trong đó để đúng 1000 năm sau bạn đập khối bê tông ra xem, mà tôi sợ thợ họ ăn bớt vật liệu, mới vài chục năm khối bê tông đã nát vụn thì phí công.
Tốt nhất là tôi gửi qua Bưu điện Bờ Hồ, theo cung cách làm ăn của họ, chắc cũng phải 1000 năm sau thư mới đến tay người nhận.
Người viết thư
Lão Hâm đã ký”
Bauxite Việt Nam: Thư giãn Chủ nhật: Gửi người một ngàn năm sau
Wednesday, April 7, 2010
HÀNH TRÌNH GIÁC NGỘ CỦA THIỀN SƯ LÂM TẾ
Sau Lục Tổ Huệ Năng, thiền tông Trung Hoa tiếp tục có những vị Tổ sư xuất chúng nối tiếp nhau, lần lượt là Thiền Sư Hoài Hải, kế đến là Thiền sư Bách Trượng, tiếp sau là Thiền sư Hoàng Bích, nối tiếp Hoàng Bích là Tổ sư Lâm Tế. Dòng thiền Lâm Tế Tông là dòng thiền lớn mạnh nhất, ảnh hưởng lớn nhất trong Thiền Tông Trung Hoa, và ảnh hưởng lớn đến cả Thiền Tông Nhật Bản. Do đó biết chút ít về Tổ Lâm Tế cũng là điều cần thiết khi tìm hiểu Thiền Tông.
Tổ Lâm Tế là một người con có hiếu và rất thông minh. Tổ xuất gia từ hồi còn nhỏ. Tổ đã được học rất nhiều kinh, luật và luận. Nhưng về sau, Tổ thấy phong trào học Phật tuy rầm rộ, mà nhiều kẻ tu hành không đàng hoàng, chỉ lo tìm kiếm danh lợi và địa vị, cho nên Tổ chán và quyết định tu thiền để đạt tới sự chứng ngộ. Có lúc Tổ tuyên bố: "Tất cả những gì ta học trong kinh, luật, luận đều vô ích. Làm sao cho mỗi giờ mỗi phút trong đời sống hàng ngày, ta sống được cho thật, đừng đánh mất cuộc đời trong sự tìm kiếm học hỏi". Phần lớn người xuất gia thường đánh mất đời mình trong sự học hỏi, kiếm tìm.
Trong thời gian còn tu học với Thiền sư Hoàng Bích, sự tu tập của Lâm Tế rất thuần nhất. Vị thủ tọa có ý khen rằng tuy thầy (Lâm Tế) thuộc về lớp sau nhưng thầy có nhiều điểm đặc biệt. Thủ tọa hỏi:
- Thầy ở đây lâu chưa?
Lâm Tế đáp:
- Được ba năm.
Thầy thủ tọa:
- Đã từng tham vấn sư tổ (Hoàng Bích) chưa?
Lâm Tế đáp:
- Con chưa từng tham vẫn và cũng không biết tham vấn về đề tài gì.
Thủ tọa bảo:
- Tại sao thầy không thử đến hỏi Hòa thượng "đại ý của Phật pháp là gì?"
Lâm Tế liền đến hỏi tổ Hoàng Bích câu ấy. Hỏi chưa hết câu thì đã bị tổ đánh. Thiền sư trở về. Thủ tọa hỏi: "Sao?"
- Con chưa hỏi xong đã bị tổ đánh, con không hiểu tại sao.
- Vậy cứ tới hỏi lần thứ hai xem sao?
Lâm Tế đến hỏi lần thứ hai. Và lại bị tổ đánh. Như thế cho đến ba lần.
Lâm Tế về hỏi vị thủ tọa:
- Cảm ơn Thủ tọa từ bi đã chỉ bảo cho con tới tham vấn Hòa thượng, nhưng ba lần con hỏi là ba lần con bị đánh. Con tự hận mình vì có nhiều chướng duyên mà không lãnh hội được ý chỉ sâu sắc của Hòa thượng. Nay con xin từ giã đi nơi khác.
Thủ tọa nói:
- Nếu thầy đi thì nên tới từ giã hòa thượng trước khi đi.
Lâm Tế lạy rồi rút lui. Vị thủ tọa tới hòa thượng thưa:
- Cái thầy còn trẻ tới tham vấn ấy có thể là một pháp khí trong tương lai đấy, vậy khi thầy ta lui tới đây từ giã thì xin hòa thượng dùng phương tiện để tiếp độ thầy ấy một chút. Trong tương lai thầy ấy có thể trở nên một cây đại thụ làm bóng mát cho rất nhiều người trong thiên hạ.
Khi Lâm Tế đến từ biệt tổ, tổ nói:
- Con không nên đi đâu cả, chỉ nên đi tới gặp thầy Đại Ngu ở đầu sông Cao An mà thôi. Thầy Đại Ngu sẽ giúp con.
Lâm Tế liền đi tới gặp Đại Ngu. Đại Ngu nói:
- Thầy từ đâu tới?
-Từ tu viện Hoàng Bích tới.
-Hoàng Bích có nói gì không?
- Ba lần tôi hỏi về đại ý của Phật pháp, ba lần tôi bị đánh. Tôi không biết là tôi có lỗi hay không có lỗi.
Đại Ngu nói:
- Hoàng Bích như một bà ngoại từ mẫn đã hết lòng hết sức giúp thầy vượt qua khó khăn, vậy mà thầy lại còn nói có lỗi hay không có lỗi!
Nghe thế, thiền sư Lâm Tế đại ngộ. Thiền sư nói:
- Thì ra là vậy, Phật pháp của hòa thượng Hoàng Bích có gì ghê gớm lắm đâu!
Đại Ngu nói:
- Cái con quỷ đái dầm này, vừa than có lỗi không lỗi đó thì nay lại dám nói Phật pháp của Hoàng Bích không có gì là ghê gớm. Thầy thấy được cái gì, nói nghe xem, nói ta nghe xem!
Thiền sư mới thụi vào hông Đại Ngu ba cái. Đại Ngu đẩy thiền sư ra, nói:
- Thầy của ông là Hoàng Bích, chuyện này chẳng dính líu gì đến ta cả.
Thiền sư liền từ giã Đại Ngu trở về với tổ Hoàng Bích. Thấy thiền sư trở về, tổ Hoàng Bích nói:
- Cái anh chàng này cứ đi đi về về như thế đến bao giờ mới chấm dứt?
Thiền sư nói:
- Chỉ vì hòa thượng quá từ bi nên con phải trở về.
Làm lễ xong, thiền sư đứng hầu một bên. Hoàng Bích hỏi:
- Đi đâu về thế?
- Mới đây theo lời dạy đầy tình thương của hòa thượng, con đã đến tham vấn Đại Ngu. Nay con mới về.
Hoàng Bích hỏi: "Đại Ngu có nói gì không?"
Thiền sư kể lại đầu đuôi câu chuyện. Hoàng Bích nói:
- Cái lão Đại Ngu kia, đợi khi có dịp nắm được lão, ta sẽ đánh cho lão một trận.
Thiền sư liền nói:
- Đâu cần đợi làm gì, hòa thượng? Hãy tiếp nhận ngay bây giờ đi.
Nói xong thiền sư liền thụi vào Hoàng Bích. Hoàng Bích la:
- Cái thằng điên này, dám tới hang cọp vuốt râu hùm hả?
Thiền sư bèn hét. Hoàng Bích nói:
- Thị giả đâu, dẫn thằng khùng này vào trong tăng đường đi!
Đó là hành trình giác ngộ của tổ Lâm Tế. Ngộ rồi thì thầy với trò ngang nhau, thỉnh thoảng hai thầy trò lại thụi nhau mấy quả, chẳng còn là thầy trò nữa mà thành bạn chí cốt. Sau này khi giảng pháp, nhớ lại chuyện mình hỏi tổ Hoàng Bích về đại ý Phật pháp ba lần đều bị đánh, có câu chuyện như sau:
Có vị bước ra hỏi tổ Lâm Tế:
-Đại ý của Phật pháp là gì?
Thiền sư đưa phất trần lên. Vị ấy hét và bị thiền sư đánh cho một cái. Lại có vị xuất gia khác lên hỏi:
- Đại ý của Phật pháp là gì?
Thiền sư cũng đưa phất trần lên. Vị ấy hét. Thiền sư cũng hét. Vị ấy do dự. liền bị thiền sư đánh. Thiền sư mới bảo:
- Này đại chúng, người vì Pháp thì không sợ táng thất thân mạng. Hai mươi năm trước hồi tôi ở với thầy Hoàng Bích, ba lần tôi hỏi về Đại ý Phật pháp là gì thì ba lần tôi được ban cho một gậy, cũng giống như được tiên sư sờ đầu bằng một cành ngải cứu vậy. Đến hôm nay tôi vẫn còn nhớ đến lần được Ngài đánh. Vậy ai có thể lên đây giúp tôi sống lại giây phút ấy?
Lúc bấy giờ có một vị xuất gia rời chỗ ngồi trong đại chúng đi lên, nói:
- Con có thể làm được việc ấy!
Thiền sư cầm cây gậy đưa cho vị kia. Vị ấy ngần ngại khi tiếp nhận cây gậy. Thiền sư liền đánh cho vị ấy một gậy.
Chuyện vui cửa Thiền - Page 7 - Lịch Sử Việt Nam
Tổ Lâm Tế là một người con có hiếu và rất thông minh. Tổ xuất gia từ hồi còn nhỏ. Tổ đã được học rất nhiều kinh, luật và luận. Nhưng về sau, Tổ thấy phong trào học Phật tuy rầm rộ, mà nhiều kẻ tu hành không đàng hoàng, chỉ lo tìm kiếm danh lợi và địa vị, cho nên Tổ chán và quyết định tu thiền để đạt tới sự chứng ngộ. Có lúc Tổ tuyên bố: "Tất cả những gì ta học trong kinh, luật, luận đều vô ích. Làm sao cho mỗi giờ mỗi phút trong đời sống hàng ngày, ta sống được cho thật, đừng đánh mất cuộc đời trong sự tìm kiếm học hỏi". Phần lớn người xuất gia thường đánh mất đời mình trong sự học hỏi, kiếm tìm.
Trong thời gian còn tu học với Thiền sư Hoàng Bích, sự tu tập của Lâm Tế rất thuần nhất. Vị thủ tọa có ý khen rằng tuy thầy (Lâm Tế) thuộc về lớp sau nhưng thầy có nhiều điểm đặc biệt. Thủ tọa hỏi:
- Thầy ở đây lâu chưa?
Lâm Tế đáp:
- Được ba năm.
Thầy thủ tọa:
- Đã từng tham vấn sư tổ (Hoàng Bích) chưa?
Lâm Tế đáp:
- Con chưa từng tham vẫn và cũng không biết tham vấn về đề tài gì.
Thủ tọa bảo:
- Tại sao thầy không thử đến hỏi Hòa thượng "đại ý của Phật pháp là gì?"
Lâm Tế liền đến hỏi tổ Hoàng Bích câu ấy. Hỏi chưa hết câu thì đã bị tổ đánh. Thiền sư trở về. Thủ tọa hỏi: "Sao?"
- Con chưa hỏi xong đã bị tổ đánh, con không hiểu tại sao.
- Vậy cứ tới hỏi lần thứ hai xem sao?
Lâm Tế đến hỏi lần thứ hai. Và lại bị tổ đánh. Như thế cho đến ba lần.
Lâm Tế về hỏi vị thủ tọa:
- Cảm ơn Thủ tọa từ bi đã chỉ bảo cho con tới tham vấn Hòa thượng, nhưng ba lần con hỏi là ba lần con bị đánh. Con tự hận mình vì có nhiều chướng duyên mà không lãnh hội được ý chỉ sâu sắc của Hòa thượng. Nay con xin từ giã đi nơi khác.
Thủ tọa nói:
- Nếu thầy đi thì nên tới từ giã hòa thượng trước khi đi.
Lâm Tế lạy rồi rút lui. Vị thủ tọa tới hòa thượng thưa:
- Cái thầy còn trẻ tới tham vấn ấy có thể là một pháp khí trong tương lai đấy, vậy khi thầy ta lui tới đây từ giã thì xin hòa thượng dùng phương tiện để tiếp độ thầy ấy một chút. Trong tương lai thầy ấy có thể trở nên một cây đại thụ làm bóng mát cho rất nhiều người trong thiên hạ.
Khi Lâm Tế đến từ biệt tổ, tổ nói:
- Con không nên đi đâu cả, chỉ nên đi tới gặp thầy Đại Ngu ở đầu sông Cao An mà thôi. Thầy Đại Ngu sẽ giúp con.
Lâm Tế liền đi tới gặp Đại Ngu. Đại Ngu nói:
- Thầy từ đâu tới?
-Từ tu viện Hoàng Bích tới.
-Hoàng Bích có nói gì không?
- Ba lần tôi hỏi về đại ý của Phật pháp, ba lần tôi bị đánh. Tôi không biết là tôi có lỗi hay không có lỗi.
Đại Ngu nói:
- Hoàng Bích như một bà ngoại từ mẫn đã hết lòng hết sức giúp thầy vượt qua khó khăn, vậy mà thầy lại còn nói có lỗi hay không có lỗi!
Nghe thế, thiền sư Lâm Tế đại ngộ. Thiền sư nói:
- Thì ra là vậy, Phật pháp của hòa thượng Hoàng Bích có gì ghê gớm lắm đâu!
Đại Ngu nói:
- Cái con quỷ đái dầm này, vừa than có lỗi không lỗi đó thì nay lại dám nói Phật pháp của Hoàng Bích không có gì là ghê gớm. Thầy thấy được cái gì, nói nghe xem, nói ta nghe xem!
Thiền sư mới thụi vào hông Đại Ngu ba cái. Đại Ngu đẩy thiền sư ra, nói:
- Thầy của ông là Hoàng Bích, chuyện này chẳng dính líu gì đến ta cả.
Thiền sư liền từ giã Đại Ngu trở về với tổ Hoàng Bích. Thấy thiền sư trở về, tổ Hoàng Bích nói:
- Cái anh chàng này cứ đi đi về về như thế đến bao giờ mới chấm dứt?
Thiền sư nói:
- Chỉ vì hòa thượng quá từ bi nên con phải trở về.
Làm lễ xong, thiền sư đứng hầu một bên. Hoàng Bích hỏi:
- Đi đâu về thế?
- Mới đây theo lời dạy đầy tình thương của hòa thượng, con đã đến tham vấn Đại Ngu. Nay con mới về.
Hoàng Bích hỏi: "Đại Ngu có nói gì không?"
Thiền sư kể lại đầu đuôi câu chuyện. Hoàng Bích nói:
- Cái lão Đại Ngu kia, đợi khi có dịp nắm được lão, ta sẽ đánh cho lão một trận.
Thiền sư liền nói:
- Đâu cần đợi làm gì, hòa thượng? Hãy tiếp nhận ngay bây giờ đi.
Nói xong thiền sư liền thụi vào Hoàng Bích. Hoàng Bích la:
- Cái thằng điên này, dám tới hang cọp vuốt râu hùm hả?
Thiền sư bèn hét. Hoàng Bích nói:
- Thị giả đâu, dẫn thằng khùng này vào trong tăng đường đi!
Đó là hành trình giác ngộ của tổ Lâm Tế. Ngộ rồi thì thầy với trò ngang nhau, thỉnh thoảng hai thầy trò lại thụi nhau mấy quả, chẳng còn là thầy trò nữa mà thành bạn chí cốt. Sau này khi giảng pháp, nhớ lại chuyện mình hỏi tổ Hoàng Bích về đại ý Phật pháp ba lần đều bị đánh, có câu chuyện như sau:
Có vị bước ra hỏi tổ Lâm Tế:
-Đại ý của Phật pháp là gì?
Thiền sư đưa phất trần lên. Vị ấy hét và bị thiền sư đánh cho một cái. Lại có vị xuất gia khác lên hỏi:
- Đại ý của Phật pháp là gì?
Thiền sư cũng đưa phất trần lên. Vị ấy hét. Thiền sư cũng hét. Vị ấy do dự. liền bị thiền sư đánh. Thiền sư mới bảo:
- Này đại chúng, người vì Pháp thì không sợ táng thất thân mạng. Hai mươi năm trước hồi tôi ở với thầy Hoàng Bích, ba lần tôi hỏi về Đại ý Phật pháp là gì thì ba lần tôi được ban cho một gậy, cũng giống như được tiên sư sờ đầu bằng một cành ngải cứu vậy. Đến hôm nay tôi vẫn còn nhớ đến lần được Ngài đánh. Vậy ai có thể lên đây giúp tôi sống lại giây phút ấy?
Lúc bấy giờ có một vị xuất gia rời chỗ ngồi trong đại chúng đi lên, nói:
- Con có thể làm được việc ấy!
Thiền sư cầm cây gậy đưa cho vị kia. Vị ấy ngần ngại khi tiếp nhận cây gậy. Thiền sư liền đánh cho vị ấy một gậy.
Chuyện vui cửa Thiền - Page 7 - Lịch Sử Việt Nam
ĐẠI Ý CỦA PHẬT PHÁP LÀ GÌ?
Một tỳ kheo hỏi thiền sư Bách Trượng:
- Bạch Hòa thượng, Đại ý của Phật pháp là gì?
Vừa dứt lời thì bị thiền sư đạp ngã lăn xuống đất. Tỳ kheo lồm cồm bò dậy, bỗng đại ngộ, vỗ tay cười ha hả.
Về sau, có người hỏi Tuệ Trung Thượng Sĩ rằng, cái đạp ấy có nghĩa gì mà nhà sư kia đại ngộ? Tuệ Trung Thượng Sĩ đáp: "Cú đạp của rồng voi, sức lừa ngựa không sao chịu được".
Nếu chỉ đọc ngần đấy chữ, chắc chắn ta không thể hiểu, ta sẽ thắc mắc rất nhiều. Nhưng đúng như Tuệ Trung Thượng Sĩ nói, đó là cú đạp của rồng voi, trí tuệ lừa ngựa thì không thể hiểu nổi. Bần tăng trí tuệ cũng chẳng đạt đến rồng voi, nhưng cũng xin lạm bàn tí bởi có lẽ nhiều người sẽ rất thắc mắc về câu chuyện trên:
Số là, câu hỏi "Đại ý Phật pháp là gì?" là một câu hỏi thường xuyên được các đệ tử hỏi các Tổ sư, và đã có nhiều người ngộ đạo sau khi được các vị Tổ sư trả lời. Ý nghĩa câu hỏi đó nhiều khi không phải là muốn hỏi về Phật pháp, và các vị tổ sư cũng chẳng bao giờ trả lời huyên thuyên về giáo pháp cả. Thay vào đó là: hét, quát, lấy gậy đánh, gõ vào đầu, thậm chí đạp người hỏi ngã lăn quay như câu chuyện trên. Vì sao các Thiền sư lại làm thế? Các hành động đó có ý nghĩa gì?
Các thiền sư có một pháp gọi là "đối trị căn cơ", tức là tìm rõ nguồn gốc, động cơ, mục đích của người hỏi để phá vỡ động cơ, mục đích đó.
Nếu người hỏi với cái tâm tò mò, băn khoăn thì thiền sư sẽ đối trị sao cho dẹp hết cái tâm tò mò, băn khoăn ấy đi.
Và đặc biệt, có lắm người hỏi chỉ để tỏ ra ta cũng hiểu biết Phật pháp, cũng quan tâm đến Phật pháp, đó là cái tâm tham, tham danh vì muốn được người khác nghĩ rằng à, ông này cũng biết Phật pháp đấy. Với mục đích để hỏi như thế thì dễ bị thiền sư cho ăn một gậy, hay một tiếng hét lắm.
Lại nữa, có người biết rõ câu trả lời, nhưng cứ thích hỏi vì muốn thử xem ông Thiền sư kia có biết rõ Phật pháp không, có nói đúng không. Nếu thiền sư mà trả lời đúng thì họ gật gù, rằng à, ông sư này cũng giỏi đấy. Còn nếu thiền sư trả lời sai thì họ sẽ vui sướng vì ông thiền sư này kém hơn mình. Đó là tâm sân, muốn ăn thua. Với mục đích của người hỏi như vậy, thiền sư sẽ không bao giờ trả lời vào nội dung câu hỏi, tức giảng giải huyên thuyên dài dòng. Mà đơn giản nhất và hay nhất là cho một cái gậy lên đầu người hỏi. Người đó đau điếng quá mà trở lên tỉnh thức, dẹp bỏ được cái tâm sân, muốn chứng tỏ mình giỏi kia. Do đó mà ngộ.
Đến đây chắc mọi người sẽ hiểu câu chuyện cũng tương tự như trên:
Một tỳ kheo hỏi Đức vua-Hòa thượng Trần Nhân Tông:
- Đại ý Phật pháp là gì?
Nhà vua-nhà sư đáp:
- Bánh vẽ.
Một câu hỏi rất hay được hỏi khác là: "Tổ sư Tây lai ý?" -Ý của Tổ sư (Bồ Đề Đạt Ma) từ phía Tây sang đây (Trung Hoa) là sao? Ta thử xem các thiền sư trả lời câu hỏi đó ra sao:
Câu chuyện "đình tiền bách thọ tử":
Viên Ngộ hỏi thiền sư Triệu Châu:
- Tổ sư từ Tây Trúc sang đây là có ý gì?
Thiền sư Triệu Châu đáp:
- Cây tùng trước cổng, nhìn xem. (Đình tiền bách thọ tử)
Viên Ngộ nghe thế thì đại ngộ.
Viên Ngộ đắc đạo, trở thành Tổ sư nối tiếp Triệu Châu, ông soạn ra bộ Bích Nham Lục nổi tiếng, nay là một kinh sách kinh điển của Thiền Tông.
Về sau thiên hạ nghe câu chuyện đó, họ bàn luận mãi, băn khoăn mãi không biết cây tùng của thiền sư Triệu Châu có gì đặc biệt mà khiến Viên Ngộ giác ngộ. Một nhà sư băn khoăn mãi không tìm được lời giải thích thỏa đáng, bèn quyết lặn lội đến hỏi Triệu Châu. Không may cho ông này, khi ông đến nơi thì Triệu Châu đã chết mấy hôm rồi. Ông ta đành hỏi đại đệ tử của Triệu Châu:
- Huynh cho tôi biết với, cây tùng có điều gì đặc biệt khiến cho Viên Ngộ giác ngộ?
Đại đệ tử của Triệu Châu chối bay:
- Cây tùng nào?
- Thì cây tùng mà Tổ sư (triệu Châu) trả lời cho Viên Ngộ ấy, cả nước này đều biết câu chuyện đó mà?
- Thầy tôi trả lời thế bao giờ? Ông đừng có vu oan giá họa cho thầy tôi!
Nhà sư kia thất vọng quá đành quay về.
Bạn thử tìm hiểu xem tại sao đại đệ tử của Triệu Châu lại trả lời phủ định thầy mình như vậy? Không phải vị đệ tử đó không tôn trọng sư phụ mình đâu, trái lại, vị đó rất xứng đáng là đại đệ tử của Triệu Châu, ông đã hành động rất đúng đắn. Lỗi là tại nhà sư kia, cứ nghĩ rằng nguyên nhân giác ngộ của Viên Ngộ nằm ở cây tùng. Thực ra không phải vậy, chính là do Triệu Châu trả lời lạc đề đã chặt đứt được cái tâm tò mò, tìm kiếm của Viên Ngộ, để Viên Ngộ tỉnh giác trở về với thực tại, do dẹp được cái tâm tìm kiếm điều gì đó nên Viên Ngộ giác ngộ. Nhưng mọi người thì cứ bị mắc vào câu trả lời của Triệu Châu, "cây tùng trước cổng", thế nên đâm ra tâm trí họ bị trói vào cây tùng, không nhìn thấy được sự thật. Thiền sư Nhất Hạnh nói, cây tùng trói buộc người ta thế rồi thì ta chặt béng cây tùng ấy đi cho xong, để mà giải thoát cho những người vướng mắc vào nó. Vị đại đệ tử của Triệu Châu trả lời như vậy, đúng là đã "chặt béng cây tùng" như ý của Nhất Hạnh rồi.
Chuyện vui cửa Thiền - Page 6 - Lịch Sử Việt Nam
- Bạch Hòa thượng, Đại ý của Phật pháp là gì?
Vừa dứt lời thì bị thiền sư đạp ngã lăn xuống đất. Tỳ kheo lồm cồm bò dậy, bỗng đại ngộ, vỗ tay cười ha hả.
Về sau, có người hỏi Tuệ Trung Thượng Sĩ rằng, cái đạp ấy có nghĩa gì mà nhà sư kia đại ngộ? Tuệ Trung Thượng Sĩ đáp: "Cú đạp của rồng voi, sức lừa ngựa không sao chịu được".
Nếu chỉ đọc ngần đấy chữ, chắc chắn ta không thể hiểu, ta sẽ thắc mắc rất nhiều. Nhưng đúng như Tuệ Trung Thượng Sĩ nói, đó là cú đạp của rồng voi, trí tuệ lừa ngựa thì không thể hiểu nổi. Bần tăng trí tuệ cũng chẳng đạt đến rồng voi, nhưng cũng xin lạm bàn tí bởi có lẽ nhiều người sẽ rất thắc mắc về câu chuyện trên:
Số là, câu hỏi "Đại ý Phật pháp là gì?" là một câu hỏi thường xuyên được các đệ tử hỏi các Tổ sư, và đã có nhiều người ngộ đạo sau khi được các vị Tổ sư trả lời. Ý nghĩa câu hỏi đó nhiều khi không phải là muốn hỏi về Phật pháp, và các vị tổ sư cũng chẳng bao giờ trả lời huyên thuyên về giáo pháp cả. Thay vào đó là: hét, quát, lấy gậy đánh, gõ vào đầu, thậm chí đạp người hỏi ngã lăn quay như câu chuyện trên. Vì sao các Thiền sư lại làm thế? Các hành động đó có ý nghĩa gì?
Các thiền sư có một pháp gọi là "đối trị căn cơ", tức là tìm rõ nguồn gốc, động cơ, mục đích của người hỏi để phá vỡ động cơ, mục đích đó.
Nếu người hỏi với cái tâm tò mò, băn khoăn thì thiền sư sẽ đối trị sao cho dẹp hết cái tâm tò mò, băn khoăn ấy đi.
Và đặc biệt, có lắm người hỏi chỉ để tỏ ra ta cũng hiểu biết Phật pháp, cũng quan tâm đến Phật pháp, đó là cái tâm tham, tham danh vì muốn được người khác nghĩ rằng à, ông này cũng biết Phật pháp đấy. Với mục đích để hỏi như thế thì dễ bị thiền sư cho ăn một gậy, hay một tiếng hét lắm.
Lại nữa, có người biết rõ câu trả lời, nhưng cứ thích hỏi vì muốn thử xem ông Thiền sư kia có biết rõ Phật pháp không, có nói đúng không. Nếu thiền sư mà trả lời đúng thì họ gật gù, rằng à, ông sư này cũng giỏi đấy. Còn nếu thiền sư trả lời sai thì họ sẽ vui sướng vì ông thiền sư này kém hơn mình. Đó là tâm sân, muốn ăn thua. Với mục đích của người hỏi như vậy, thiền sư sẽ không bao giờ trả lời vào nội dung câu hỏi, tức giảng giải huyên thuyên dài dòng. Mà đơn giản nhất và hay nhất là cho một cái gậy lên đầu người hỏi. Người đó đau điếng quá mà trở lên tỉnh thức, dẹp bỏ được cái tâm sân, muốn chứng tỏ mình giỏi kia. Do đó mà ngộ.
Đến đây chắc mọi người sẽ hiểu câu chuyện cũng tương tự như trên:
Một tỳ kheo hỏi Đức vua-Hòa thượng Trần Nhân Tông:
- Đại ý Phật pháp là gì?
Nhà vua-nhà sư đáp:
- Bánh vẽ.
Một câu hỏi rất hay được hỏi khác là: "Tổ sư Tây lai ý?" -Ý của Tổ sư (Bồ Đề Đạt Ma) từ phía Tây sang đây (Trung Hoa) là sao? Ta thử xem các thiền sư trả lời câu hỏi đó ra sao:
Câu chuyện "đình tiền bách thọ tử":
Viên Ngộ hỏi thiền sư Triệu Châu:
- Tổ sư từ Tây Trúc sang đây là có ý gì?
Thiền sư Triệu Châu đáp:
- Cây tùng trước cổng, nhìn xem. (Đình tiền bách thọ tử)
Viên Ngộ nghe thế thì đại ngộ.
Viên Ngộ đắc đạo, trở thành Tổ sư nối tiếp Triệu Châu, ông soạn ra bộ Bích Nham Lục nổi tiếng, nay là một kinh sách kinh điển của Thiền Tông.
Về sau thiên hạ nghe câu chuyện đó, họ bàn luận mãi, băn khoăn mãi không biết cây tùng của thiền sư Triệu Châu có gì đặc biệt mà khiến Viên Ngộ giác ngộ. Một nhà sư băn khoăn mãi không tìm được lời giải thích thỏa đáng, bèn quyết lặn lội đến hỏi Triệu Châu. Không may cho ông này, khi ông đến nơi thì Triệu Châu đã chết mấy hôm rồi. Ông ta đành hỏi đại đệ tử của Triệu Châu:
- Huynh cho tôi biết với, cây tùng có điều gì đặc biệt khiến cho Viên Ngộ giác ngộ?
Đại đệ tử của Triệu Châu chối bay:
- Cây tùng nào?
- Thì cây tùng mà Tổ sư (triệu Châu) trả lời cho Viên Ngộ ấy, cả nước này đều biết câu chuyện đó mà?
- Thầy tôi trả lời thế bao giờ? Ông đừng có vu oan giá họa cho thầy tôi!
Nhà sư kia thất vọng quá đành quay về.
Bạn thử tìm hiểu xem tại sao đại đệ tử của Triệu Châu lại trả lời phủ định thầy mình như vậy? Không phải vị đệ tử đó không tôn trọng sư phụ mình đâu, trái lại, vị đó rất xứng đáng là đại đệ tử của Triệu Châu, ông đã hành động rất đúng đắn. Lỗi là tại nhà sư kia, cứ nghĩ rằng nguyên nhân giác ngộ của Viên Ngộ nằm ở cây tùng. Thực ra không phải vậy, chính là do Triệu Châu trả lời lạc đề đã chặt đứt được cái tâm tò mò, tìm kiếm của Viên Ngộ, để Viên Ngộ tỉnh giác trở về với thực tại, do dẹp được cái tâm tìm kiếm điều gì đó nên Viên Ngộ giác ngộ. Nhưng mọi người thì cứ bị mắc vào câu trả lời của Triệu Châu, "cây tùng trước cổng", thế nên đâm ra tâm trí họ bị trói vào cây tùng, không nhìn thấy được sự thật. Thiền sư Nhất Hạnh nói, cây tùng trói buộc người ta thế rồi thì ta chặt béng cây tùng ấy đi cho xong, để mà giải thoát cho những người vướng mắc vào nó. Vị đại đệ tử của Triệu Châu trả lời như vậy, đúng là đã "chặt béng cây tùng" như ý của Nhất Hạnh rồi.
Chuyện vui cửa Thiền - Page 6 - Lịch Sử Việt Nam
Subscribe to:
Posts (Atom)
